Văn phòng Diện Chẩn Sống Khỏe_ Khu nhà 102 Ngõ 95 Chùa Bộc-Đống Đa-Hà Nội _ ĐT : 0906143408

Hướng dẫn lý thuyết và thực hành cơ bản cho những quí vị thực sự yêu thích Diện Chẩn . Hãy gọi cho chúng tôi để biết lịch .

Tư vấn sức khỏe , chẩn bệnh đưa ra phác đồ miễn phí.

Hiển thị các bài đăng có nhãn viêm họng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn viêm họng. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015

Mùa lạnh cảnh giác với viêm đường hô hấp trên

Mùa đông khí hậu lạnh, độ ẩm cao cơ thể rất dễ bị nhiễm bệnh nhất là những bệnh lên quan đến đường hô hấp trên như: viêm họng, hầu, mũi, viêm thanh quản, VA, viêm các xoang... Vì vậy, cần phát hiện sớm các dấu hiệu của bệnh để điều trị kịp thời tránh biến chứng ảnh hưởng lâu dài với sức khỏe là vô cùng cần thiết.
Bệnh của thời tiết
Có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh viêm đường hô hấp trên trong đó thời điểm giao mùa, mùa đông lúc trời trở lạnh, độ ẩm trong không khí giảm thấp,… khiến sức đề kháng cơ thể kém là nguyên nhân chính khiến bệnh khởi phát. Cụ thể, các căn nguyên sau: dị ứng với thời tiết, các loại dị nguyên khác nhau (kháng nguyên) có trong không khí, bụi… hoặc tác động của hóa chất (khói thuốc lá - hút hoặc hít phải khói thuốc lá, thuốc lào do người khác nhả ra).
Mùa lạnh cảnh giác với viêm đường hô hấp trên
Mùa lạnh khi cho trẻ ra ngoài cần mặc ấm để tránh bị lạnh gây viêm đường hô hấp.
Mặt khác, khi cơ thể sức đề kháng yếu khiến cho các virut, vi khuẩn cư trú ở chất nhầy niêm mạc mũi họng là nguyên nhân chủ yếu dễ dàng xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh.
Dấu hiệu nhận biết:
Viêm đường hô hấp trên là biểu hiện của nhiều bệnh bao gồm cảm lạnh, viêm mũi họng, viêm họng, viêm xoang, viêm thanh quản. Với các triệu chứng chủ yếu: sốt cao, hắt hơi, sổ mũi, chảy mũi, ngạt mũi, tắc mũi, đau rát họng, ho, khàn tiếng, lạc tiếng, giọng mũi, khản đặc có khi mất tiếng, mệt mỏi, đau đầu, đau mỏi cơ khớp…Tuy nhiêm, với đặc điểm của viêm đường hô hấp trên là thời gian ủ bệnh ngắn, biểu hiện của bệnh nhanh và mang tính ồ ạt kèm theo là sốt cao và thành cơn (thường là 39oC trở lên); hắt hơi, sổ mũi xuất hiện nhiều lần trong ngày kèm theo rát mũi, đau họng. Người bệnh chảy nhiều nước mũi trong, loãng, không có mùi hôi.
Nếu virut gây bệnh ở thanh quản thì người bệnh có biểu hiện khàn tiếng. Khởi phát của bệnh chỉ là khản tiếng, giọng mũi, sau đó tiếng bị khàn đục và nếu không được điều trị hoặc có những tác động như nói nhiều, hét to... dễ dẫn đến mất tiếng.
Tuy nhiên, mỗi cơ quan bị bệnh sẽ có những dấu hiệu điển hình và đặc thù khác nhau.
- Viêm đường hô hấp trên cấp tính thường xảy ra khi gặp một số yếu tố thuận lợi tác động vào cơ thể như thay đổi thời tiết đột ngột với triệu chứng khởi phát là đột ngột sốt có thể sốt nhẹ, đôi khi sốt cao và rét run kèm theo là các triệu chứng ho, người bệnh có thể ho húng hắng hoặc ho liên tục, hắt hơi và chảy nước mũi. Tại họng, người bệnh có triệu chứng đau khi nuốt nước bọt, khi ăn. Nếu không được điều trị hoặc điều trị không đúng thì rất dễ dàng chuyển thành mạn tính.
- Viêm đường hô hấp trên mạn tính với biểu hiện là ho húng hắng, rát họng, thấy vướng khi nuốt (như có vật gì nằm trong họng), chảy nước mũi thường xuyên. Nghẹt mũi (một bên hoặc cả hai) do hiện tượng phì đại cuốn mũi... ở những trường hợp bị viêm xoang thường có kèm theo triệu chứng đau đầu... Một số trẻ em bị VA mạn tính kéo dài mà căn nguyên do trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa) thì chất nhày chảy ra ở mũi thường có màu xanh thường gọi là “thò lò mũi xanh”. Ngoài chảy nước mũi, khi ngủ trẻ thường thở bằng miệng.
Khuyến cáo của thầy thuốc
Để phòng bệnh viêm đường hô hấp trên trong mùa đông, quan trọng nhất vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường sống.
Đối với vệ sinh cá nhân, nhất là trẻ em và người cao tuổi mùa đông cần mặc áo ấm, giữ ấm cổ, cần quàng khăn, đi găng tay, tất chân… Vệ sinh răng miệng hàng ngày, trước và sau khi ngủ dậy. Khi ra đường nên đeo khẩu trang để hạn chế hít phải nhiều bụi.
Tại gia đình, nơi ở cần sạch sẽ, thông thoáng không bị gió lùa (tránh mở hai cửa lưu thông nhau). Giường ngủ gọn gàng, thường xuyên giặt chăn, màn,… Tuyệt đối không hút thuốc lá, thuốc lào. Những gia đình dùng bếp than cần có biện pháp hạn chế đến mức tối đa hít phải khí độc do than khi đốt cháy thải ra. Những gia đình dùng bếp củi, rơm, rạ nên dùng loại bếp ít khói.

Khi có một số dấu hiệu của bệnh viêm đường hô hấp trên như: ho, sốt, sổ mũi, hắt hơi,…. không tự ý sử dụng thuốc đặc biệt là thuốc kháng sinh, không điều trị theo lời mách bảo của người khác. Cần đến cơ sở y tế để được bác sĩ khám và điêu trị đúng.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2015

Khó nuốt, cảnh báo bệnh gì?

Thỉnh thoảng khó nuốt thường không phải là mối lo lớn và chỉ đơn giản là có thể xảy ra khi ăn quá nhanh hoặc nhai thức ăn không kỹ.

Nhưng khó nuốt, đau khi nuốt, không thể nuốt, cảm giác mắc kẹt trong cổ họng... có thể cảnh báo bệnh lý từ thực quản.
Viêm thực quản: đây là nguyên nhân thường gặp gây nên hiện tượng nuốt khó. Viêm thực quản có thể do vệ sinh răng miệng không tốt, dinh dưỡng thiếu, dịch dạ dày chảy ngược lên... Người bệnh ngoài nuốt khó còn gặp triệu chứng đau khi ăn, khi nuốt thấy ở sau xương ức bị đau như có lửa đốt. Nhiều khi đau lan sang cả bên cạnh, sang cổ, xuống lưng, khi đứng thẳng thì hết đau. Bệnh nhân nặng có thể bị co giật cục bộ
Khó nuốt, cảnh báo bệnh gì?
Khối u ở thực quản gây khó nuốt
Sa thực quản: đặc điểm của bệnh này là ngoài nuốt khó còn có hiện tượng đau lan tỏa từ phần bụng trên sang vùng lưng vai sau khi ăn. Khi nằm xuống, triệu chứng đau càng nặng thêm; triệu chứng đau giảm nhiều khi đứng.
Ung thư thực quản: đây là một trong những loại ung thư hay gặp ở nước ta, nhất là với nam giới trên 40 tuổi. Thời kỳ đầu, bệnh có biểu hiện tức sau xương ức hoặc có cảm giác nuốt khó hoặc nghẹn. Sau đó, bệnh nhân nuốt khó liên tục, ban đầu nuốt chất rắn khó, sau đó nuốt chất lỏng cũng khó, thậm chí nôn mửa ngay sau khi ăn.
Túi thừa thực quản: hiện tượng thực quản phát triển không bình thường, mọc các túi nhỏ lồi vào lòng thực quản. Khi ăn, thức ăn sẽ lọt vào bên trong làm các túi nhỏ này trương dần, to lên, đè vào thực quản gây nên hiện tượng nuốt không thông. Triệu chứng lúc nhẹ lúc nặng, và khi bị viêm thì có thể xuất huyết, thậm chí thủng thực quản. Thường túi thừa chỉ ở thực quản trên dẫn đến khó nuốt, người bệnh kèm thở rít, hôi miệng hoặc ho.
Ngoài ra, nuốt khó còn gặp trong trường hợp khối u lành thực quản, hẹp thực quản, biến đổi sinh lý ở cơ thần kinh như: không co giãn cơ trơn; lão hóa do tuổi tác; co thắt lan tỏa; bệnh teo thực quản; trào ngược dạ dày thực quản...
Khắc phục cách nào?
Như trên đã nói có rất nhiều nguyên gây khó nuốt khác nhau và điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân. Việc nội soi thực quản sẽ giúp ích cho chẩn đoán sớm nguyên nhân từ đó có phương pháp điều trị đúng. Mặc dù khó nuốt không thể được ngăn chặn khi nguyên nhân do tổn thương hay rối loạn thần kinh, nhưng có thể giảm nguy cơ khó nuốt bằng cách ăn chậm và nhai kỹ. Phát hiện sớm và điều trị hiệu quả trào ngược dạ dày thực quản có thể giảm nguy cơ khó nuốt kèm bệnh teo thực quản.



Thứ Năm, 17 tháng 9, 2015

Phòng ngừa khản tiếng, mất tiếng khi thời tiết chuyển mùa

Hiện nay, môi trường ngày càng ô nhiễm, thời tiết thay đổi đột ngột khiến cho các bệnh đường hô hấp gia tăng nhanh hơn. Đặc biệt, khi thời tiết chuyển mùa, trời đột nhiên nóng hoặc lạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn, virus, nấm mốc phát triển. Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn tới khản tiếng, mất tiếng, triệu chứng điển hình của viêm thanh quản.
Những yếu tố gây khản tiếng, mất tiếng
Con người phát âm được là nhờ vào thanh quản, bao gồm 2 dây thanh đới, khi rung lên tạo nên âm sắc cho giọng nói. Do đó, khi dây thanh bị kích ứng hoặc tổn thương sẽ ảnh hưởng đến giọng nói, gây khản tiếng, thậm chí là mất tiếng.
Phòng ngừa khản tiếng, mất tiếng khi thời tiết chuyển mùa
Thời tiết chuyển mùa gây nên tình trạng khản tiếng, mất tiếng
Viêm thanh quản là do lớp niêm mạc thanh quản bị viêm, dẫn tới khản tiếng, mất tiếng. Đối tượng dễ gặp phải là trẻ nhỏ hay người già do sức đề kháng kém và những người phải nói nhiều hoặc ở lâu ngoài trời do tính chất công việc.
Viêm thanh quản thường xảy ra sau đợt viêm nhiễm của đường hô hấp trên (mũi – xoang, họng), hoặc có thể xuất hiện ngay sau khi bị cảm lạnh với dấu hiệu chính là khản tiếng, mất tiếng đột ngột. Ban đầu, người bệnh cảm thấy nhức đầu, sốt nhẹ, mệt mỏi, họng khô rát, ho khan. Tiếp đến, giọng bị khản, có lúc bị khản đặc, thậm chí là mất tiếng. Viêm thanh quản cấp nếu không được điều trị triệt để sẽ tái phát nhiều lần và dễ chuyển sang giai đoạn mạn tính.
Phòng ngừa khản tiếng, mất tiếng khi thời tiết chuyển mùa
Viêm thanh quản khiến người bệnh khó chịu, mệt mỏi
Biện pháp phòng ngừa và điều trị viêm thanh quản

Để điều trị viêm thanh quản, bác sĩ thường dùng cho bệnh nhân các loại thuốc kháng sinh, giảm phù nề, giảm ho, long đờm khi có bội nhiễm. Tuy nhiên, việc lạm dụng các loại thuốc này sẽ gây ra tình trạng nhờn thuốc hoặc bị ảnh hưởng bởi một số tác dụng phụ. Trên thực tế, bệnh nhân cũng tự trang bị cho mình những cách chữa trị đơn giản như: xông hơi, uống nước ấm pha mật ong và chanh, súc miệng bằng nước muối… Tuy nhiên, những công việc này thường tốn khá nhiều thời gian chuẩn bị và không mang lại hiệu quả cao đối với những trường hợp đã bị viêm thanh quản mạn tính.


Thứ Tư, 9 tháng 9, 2015

Chọn thuốc trị viêm họng dị ứng

Các thuốc kháng H1
Dựa vào dược động học, tác dụng, các thuốc kháng H1 được xếp thành hai thế hệ:
Thế hệ I: có tác dụng trên receptor H1 cả trung ương và ngoại vi, có tác dụng an thần mạnh, chống nôn và có tác dụng kháng cholinergic.
Thế hệ II: có thời gian bán thải dài, ít tác dụng trên H1 trung ương, chỉ có tác dụng trên H1 ngoại vi, không gây buồn ngủ.
Cơ chế tác dụng
Thuốc kháng histamin H1 ức chế có cạnh tranh với histamin tại receptor H1 làm mất các tác dụng của histamin trên receptor nên mất triệu chứng dị ứng.
Thuốc kháng H1 có tác dụng dự phòng tốt hơn là chữa trị vì khi histamin được giải phóng tạo hàng loạt phản ứng và sẽ giải phóng đồng thời các chất trung gian khác mà thuốc kháng H1 không đối kháng được. Thuốc có tác dụng giảm ho: nhiều thuốc kháng H1 chống được ho theo cơ chế ngoại biên do ức chế sự co phế quản gây phản xạ ho (promethazin, oxomemazin, doxylamin, dexclopheniramin...) nhưng hiệu lực kém thuốc chống ho trung ương. Thuốc kháng H1 làm tăng tiềm lực của thuốc giãn phế quản khác (như các amin cường giao cảm loại ephedrin).
Thuốc còn có tác dụng chống ngứa họng.
Một số lưu ý khi dùng thuốc
Nên tránh dùng thuốc với: rượu ethylic, thuốc ngủ, thuốc làm dịu, an thần kinh, thuốc giảm đau nguồn gốc trung ương. Làm tăng tác dụng trung ương của thuốc kháng H1. Thuốc kháng cholinergic: atropin, scopolamine. Thuốc an thần kinh (trừ butyrophenon). Thuốc chống trầm cảm loại ba vòng, ức chế MAO, thuốc chống Parkinson, dispyramid, thuốc chống co thắt. Làm tăng tác dụng kháng cholinergic của thuốc kháng H1. Thuốc cường phó giao cảm và ức chế cholinesterase do đối kháng với tác dụng kháng cholinergic của thuốc kháng H1.
Tác dụng không mong muốn: biểu hiện ức chế thần kinh (ngủ gà, khó chịu, giảm phản xạ, mệt), mất kết hợp vận động, chóng mặt. Những biểu hiện trên tăng mạnh nếu dùng thuốc kháng H1 cùng rượu ethylic hoặc thuốc ức chế thần kinh trung ương. Cấm dùng khi lái xe, đang vận hành máy móc hoặc làm việc nơi nguy hiểm (trên cao).
Ở một số người tác dụng biểu hiện ở dạng kích thích (nhất là ở trẻ còn bú): mất ngủ, dễ kích động, nhức đầu, có khi co giật nếu liều cao.
Để hạn chế tác dụng không mong muốn trên thần kinh trung ương có thể giảm liều hàng ngày hoặc dùng lúc chiều tối, dùng loại kháng H1 thế hệ II.
Do tác dụng kháng cholinergic thuốc có thể gây khô miệng, hầu họng; khạc đờm khó; khó tiểu tiện, bí đái, liệt dương; rối loạn điều tiết thị giác, tăng áp lực trong mắt đặc biệt ở người có glôcôm góc đóng, đánh trống ngực; giảm tiết sữa.
- Trên tim mạch: terfenadin, astemizol kéo dài khoảng QT có thể đưa đến hiện tượng xoắn đỉnh, hiện nay không dùng.
- Không dung nạp, thay đổi huyết áp, rối loạn máu (thiếu máu tan máu, giảm bạch cầu, thoái hóa bạch cầu hạt) tăng nhạy cảm với ánh sáng.
Thuốc kháng H1 chỉ thuần tuý chữa triệu chứng mà không chữa được nguyên nhân gây ra dị ứng.
Thuốc kháng H1 ít hiệu quả khi cần tác dụng nhanh và mạnh.
Chống chỉ định
Liên quan tới tác dụng kháng cholinergic: phì đại tuyến tiền liệt, glôcôm góc hẹp, nghẽn ống tiêu hóa và đường niệu, nhược cơ, khi dùng IMAO.
Do tác dụng gây dị ứng của thuốc kháng histamin: quá mẫn với thuốc; không dùng thuốc kháng H1 ngoài da khi tổn thương da.
Ở người có thai, không dùng cyclizin và dẫn xuất (có thể gây quái thai).
Không dùng các thuốc thế hệ II như terfenadin, astemizol với các thuốc erythromycin, ketoconazol, itraconazol.
Khi lái tàu xe, vận hành máy móc không dùng thuốc kháng H1.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317