Văn phòng Diện Chẩn Sống Khỏe_ Khu nhà 102 Ngõ 95 Chùa Bộc-Đống Đa-Hà Nội _ ĐT : 0906143408

Hướng dẫn lý thuyết và thực hành cơ bản cho những quí vị thực sự yêu thích Diện Chẩn . Hãy gọi cho chúng tôi để biết lịch .

Tư vấn sức khỏe , chẩn bệnh đưa ra phác đồ miễn phí.

Hiển thị các bài đăng có nhãn TÀI LIỆU Y HỌC CỔ TRUYỀN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TÀI LIỆU Y HỌC CỔ TRUYỀN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2015

Làm sao có thêm trái tim phòng hờ?

Uổng ghê vì ai cũng có hai trái tim nhưng ít người biết dùng! Tại sao khi còn khỏe mạnh lại không mượn sức của trái tim thứ hai để trái tim thứ nhất nhẹ gánh ưu phiền.

Cho dù kỹ thuật mổ tim đang được phát triển không ngừng, vấn đề của người bệnh là liệu căn bệnh có thực sự khóa sổ sau ngày xuất viện, nếu như may mắn tai qua nạn khỏi hay thủ thuật thông tim chỉ là biện pháp tạm bợ đúng nghĩa cấp cứu? Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Nhiều người ắt hẳn đã tiếc rẻ nếu "trời sinh voi sinh cỏ", tại sao lại không gắn thêm trong cơ thể con người trái tim phòng hờ?
Tận dụng chức năng của cơ hoành
Ước muốn đó tưởng chừng như chuyện không tưởng lại không hẳn là "điệp vụ bất khả thi" nếu đừng quên cơ hoành, lớp cơ trơn giữ vai trò lá chắn giữa lồng ngực và xoang bụng, một thành phần tưởng chừng như không giữ vai trò nào nổi bật trong cơ thể. Ấy vậy mà chỉ cần biết cách thay đổi điều kiện vận hành, cơ hoành có thể lột xác để trở thành đòn bẩy cho trái tim khỏe mạnh.
Người tập khí công, dưỡng sinh, yoga… bao giờ cũng có một điểm tương đồng trong thao tác. Người tập bao giờ cũng phải tiến hành hai công đoạn hô hấp hầu như trái ngược về kỹ thuật. Nếu hít vào bằng mũi thì thở ra bằng miệng. Nếu hít vào thật nhanh thì thở ra thật chậm hay ngược lại. Người tập kỹ thuật hô hấp sở dĩ chọn động tác vào ra tương phản như thế là vì muốn tận dụng chức năng của cơ hoành!
Một số động tác ít nhiều phức tạp, từ cách ngồi hoa sen, nằm kê mông cho đến trồng chuối… đều tăng cường hiệu năng cho cơ hoành.

Mát xa được nội tạng mới hay
Tập động tác hô hấp cơ hoành di chuyển lên, xuống nhịp nhàng trong từng nhịp thở. Với cách thở thông thường, cơ hoành hầu như không ảnh hưởng được bao nhiêu trong vùng xoang ngực và xoang bụng. Nhưng nếu biết cách hít thật sâu để tăng áp lực trong lồng ngực khiến cơ hoành bị đẩy xuống với sức ép cao hơn bình thường thì cơ hoành khi đó như bàn tay đưa thêm máu đến toàn bộ cơ quan khu trú trong xoang bụng.
Ngay lúc đó, nếu động tác giữ hơi được thực hiện đúng kỹ thuật thì cơ hoành chẳng khác nào chiếc van đóng kín để lượng máu luân lưu đến gan, thận, tụy tạng, dạ dày, ruột… đừng vội vã tháo chạy mà ngược lại, có đủ thời giờ bàn giao dưỡng chất và tiếp nhận phế chất.
Liền sau đó, động tác thở ra lại kéo cơ hoành trở về vị trí bình thường và qua đó giải tỏa áp lực trong xoang bụng để máu được hút từ nội tạng đổ về tim một cách hồ hởi. Chuyên gia ngành yoga ở Ấn Độ đã không quá lời khi so sánh cơ hoành như bàn tay điêu luyện vừa xoa vừa bóp nội tạng bằng động tác khi bóp khi buông, lúc bơm lúc hút. Không lạ gì khi rối loạn chức năng tiêu hóa, tiết niệu… là điều xa lạ với người khổ công tập thở!
Cơ hoành: Trợ thủ khéo tay
Chưa hết hay. Cơ hoành một khi được kéo lên, trong thời thở ra sẽ tạo áp lực trong lồng ngực để đẩy máu từ tim lên phổi, đồng thời tưới máu trên thành tim. Ngược lại, cơ hoành khi hạ thấp trong thời hít vào giúp động tác co thắt của trái tim thêm phần nhẹ nhàng.
Nói cách khác, cơ hoành hoạt động càng mạnh thì trái tim càng khỏe, nhờ thế liên hoàn trong vận động cứ như đang khiêng nặng bỗng có người phụ một tay. Chính vì thế mà nhiều chuyên gia ngành khí công đã không quá lời khi đặt tên cho cơ hoành là "trái tim thứ hai"!
Một công nhiều việc
Trên thực tế, cơ hoành không chỉ hữu ích cho trái tim. Như đã phân tích, vận động của cơ hoành có tính chiến lược theo kiểu "một công hai việc", vừa trợ lực cho trái tim và hai lá phổi, vừa tiếp dưỡng khí cho đủ loại cơ quan trong xoang bụng. Người quán triệt kỹ thuật hô hấp qua đó có thể tự cải thiện chức năng hô hấp do tác dụng gián tiếp trên hệ tuần hoàn.
Với cơ chế bơm hút vừa trình bày, biết cách hít thở đồng nghĩa với tối ưu hóa chức năng của não bộ, của hệ tiêu hóa, nội tiết, sinh dục… nhờ tế bào không thiếu dưỡng khí. Thầy thuốc chuộng môn dưỡng sinh quả thật đã không xa rời thực tế khi áp dụng kỹ thuật hô hấp để điều trị từ mất ngủ, bước qua rối loạn nhịp tim, cho đến… táo bón!
Trăm hay không bằng tay quen
Để tăng cường hiệu năng của cơ hoành, người tập yoga, dưỡng sinh còn khéo hơn nữa khi kết hợp trong bài tập một số động tác ít nhiều phức tạp, từ cách ngồi hoa sen, nằm kê mông cho đến trồng chuối… Tất cả động tác ít nhiều phức tạp trong bài tập dưỡng sinh trên thực tế chỉ xoay quanh mục đích tạo điều kiện khó khăn để buộc cơ hoành hoạt động mạnh hơn, lâu hơn, dẻo dai hơn, nhịp nhàng hơn khi người tập hít thở.
Cơ hoành càng sung sức, tim càng đỡ mệt. Chuyên gia ngành khí công ở Trung Quốc ắt hẳn có lý do chính đáng khi quả quyết ai nắm vững kỹ thuật luyện tập cơ hoành, người đó quán triệt bí quyết sống lâu gần… trăm tuổi!
Bệnh tim vẫn trước sau đứng đầu về tỉ lệ tử vong mặc dù thầy thuốc đang có trong tay thuốc tốt, máy xịn! Chờ chi đến lúc trái tim thủ vai chính đã mệt gần đứt hơi mới co giò tìm thầy chạy thuốc? Rượt đuổi có khéo cách mấy cũng đã chậm ít bước.
Với bệnh tim mạch cho dù có tìm được giải pháp tạm bợ cũng mệt cầm canh! Cách tốt nhất để trị bệnh tim là sống sao để tim đừng bệnh, càng lâu càng tốt. Có khó lắm không nếu bỏ ra mỗi ngày ít phút cho vài động tác tập luyện cơ hoành? Ấy vậy mà số người xếp hàng chờ lịch mổ tim vẫn càng lúc càng đông?!


Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015

Tự xoa bóp chữa chứng chuột rút

Tự xoa bóp chữa chứng chuột rút
Huyệt côn lôn. Ảnh: Trần Minh
Khi bị chuột rút, cả khối cơ bị co lại, lồi lên, ấn thấy cứng và rất đau, bàn chân không co duỗi được, các ngón chân quặp lại, ngón cái ngoặt ra ngoài hoặc vênh lên. Tình trạng này thường phát sinh khi cơ bắp chân quá mệt mỏi do phải đi nhiều, chạy lâu, bơi trong nước lạnh, đột ngột vận động mà thiếu sự khởi động ban đầu hoặc là triệu chứng của các bệnh lý viêm dây thần kinh, giãn tĩnh mạch chi dưới, hạ canxi máu... Khi lâm vào trạng thái này, cần tiến hành một số thao tác xoa bóp sau đây:
- Dùng hai bàn tay ôm lấy bắp chân và vuốt từ trên xuống dưới tận gót chân nhiều lần với một lực vừa phải.
- Dùng ngón giữa bàn tay phải day bấm huyệt ủy trung trong 1 phút. Vị trí huyệt ủy trung: ở giữa nếp ngang giữa kheo chân.
- Dùng ngón cái bàn tay bên đối diện day bấm huyệt thừa sơn trong 1 phút. Vị trí huyệt thừa sơn: nằm ở khu vực giữa bắp chân, trong chỗ lõm của của khe hai bắp thịt (kiễng bàn chân chỗ lõm sẽ hiện rõ).
- Dùng ngón tay cái lần lượt day bấm hai huyệt côn lôn (ở chỗ lõm giữa điểm cao nhất của mắt cá ngoài và bờ ngoài gân gót chân) và thái khê (ở chỗ lõm giữa điểm cao nhất của mắt cá trong và bờ trong gân gót)
- Tiếp đó, dùng hai bàn tay bóp nhẹ nhàng bắp chân trong 1 phút. Sau đó từ từ gấp duỗi cẳng chân rồi đứng thẳng dậy làm cho cơ bị co được căng ra và giải tỏa dần tình trạng co cứng.
Những người hay bị co rút bắp chân cần chú ý:
- Nên đi kiểm tra sức khỏe toàn diện để tìm ra nguyên nhân gây chuột rút.
- Tuyệt đối không nên vận động đột ngột, trước đó phải tiến hành khởi động đầy đủ.
- Tránh để cơ bắp chân lâm vào tình trạng mệt mỏi quá độ.
- Cần chú ý giữ ấm cẳng chân khi đi ngủ. Trước khi ngủ nên xoa bóp cơ cẳng chân trong 20 - 30 phút.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Nội dưỡng công và cường tráng công trong đông y (Kỳ II)

Tác dụng của cường tráng công chủ yếu xác định cách ngồi, cách nằm làm cho các cơ nhục, các khớp ở tay, chân, thân thể và tạo thành một tư thế nhất định, kết hợp với phép thở, tập trung ý thức nhằm nâng cao sinh khí trong cơ thể, từ đó mà có hiệu quả trong chữa một số tật bệnh và nâng cao sức khỏe cho cơ thể.
Tư thế
Cách ngồi:
- Ngồi xếp bằng đơn (hình 1):
Nội dưỡng công và cường tráng công trong đông y (Kỳ II)
Cách ngồi xếp bằng đơn.
Nội dưỡng công và cường tráng công trong đông y (Kỳ II)
Cách ngồi xếp bằng kép.
Ngồi lưng thẳng tạo thành một góc vuông với nền sàn, chân xếp bằng tròn, đùi bên trái gác lên đùi bên phải, hoặc đùi bên phải gác lên đùi bên trái, có thể tùy thói quen của từng người sao cho thuận lợi và thoải mái.
- Ngồi xếp bằng kép (hình 2):
Ngồi lưng thẳng tạo thành một góc vuông với nền sàn, chân bên trái đặt lên đùi bên phải, lại lấy chân bên phải đặt lên đùi bên trái, hai lòng bàn chân ngửa lên.
- Ngồi xếp bằng tự nhiên:
Hai đùi giao chéo nhau, xòe ra như chữ bát, tùy ý đặt đùi cho bằng, ngồi một cách tự nhiên thoải mái.
3 phương pháp trên, ngoài những điểm đã kể ra, đều cần phải có đủ những chỗ chung nhau như: mông ngồi ngay thẳng yên ổn, hơi đưa ra phía sau một chút, để cho đốt xương sống không co lại, ngực hơi cúi về phía trước, tạo thành tư thế xuôi vai xuống, khép ngực lại, hai tay nhè nhẹ nắm chắp lại đặt lên trước bụng dưới, lấy 4 ngón tay bên này nắm nhẹ 4 ngón tay bên kia, hai ngón tay cái giao chéo với nhau, hai tay nắm nhau, phải trái tùy ý; hoặc hai tay bỏ ra hai bên, nhè nhẹ đặt lên hai đùi, bàn tay úp xuống bằng phẳng một cách tự nhiên; đầu ngay thẳng, hơi cúi về phía trước một chút, tập để cho tai như không nghe gì, hai mắt hơi nhắm lại, để lộ ra một ít tia sáng, mắt nhìn xuống đầu sống mũi, miệng mím lại cho tự nhiên, chú ý vào đan điền, thở ra hít vào bằng mũi.
Cách nằm:
Cũng giống như cách nằm của phép Nội dưỡng công.
Phương pháp
Cách thở phổ thông:
Dùng mũi để thở ra hít vào cho tự nhiên không nên để ý về hơi thở làm cho hơi thở hòa hoãn, dần kéo dài hơi thở, cong đầu lưỡi thúc lên hàm trên, làm cho nước bọt trong miệng chảy ra càng nhiều càng tốt và có thể từ từ nuốt xuống. Phép này thường dùng cho những người mới bắt đầu luyện công, tuổi già sức yếu, bệnh tật nghiêm trọng.
Cách thở sâu:
Khi thở cần êm, nhỏ, sâu, dài, mục đích không nghe tiếng thở là được. Thời gian thở ra và hít hơi vào bằng nhau, không cần cách khoảng, khi mới luyện phải tự nhiên, kiên trì, từ từ tiến hành thở.
Cách này thích ứng cho những người tinh thần không tập trung mà sức khỏe đang còn dồi dào, bị tăng huyết áp, hoặc người hay bị đại tiện táo kết.
Cách thở ngực:
Khi hít hơi vào làm cho ngực nở lên, bụng dưới thu xẹp lại, khi thở ra làm cho dưới bụng phình lên, ngực thu xẹp lại. Thở ra hít vào phải đạt được 5 điểm yêu cầu: yên ổn, nhẹ, sâu, dài và lặng, để cho tự nhiên, tuyệt đối không nên miễn cưỡng, khoảng giữa khi thở ra hít vào không nên nín thở.
Phép này chỉ dùng cho người thân thể to mập nhanh nhẹn, cần luyện công để chữa bệnh hoặc nâng cao sức khỏe.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Nội dưỡng công và cường tráng công trong đông y (Kỳ I)

Nội dưỡng công và cường tráng công là một phương pháp khí côngkhá đơn giản, dễ tập luyện mà hiệu quả cao. Nội dưỡng công, cường tráng công thuộc thể loại tĩnh công, nghĩa là khi luyện công cơ thể hoàn toàn bất động. Tuy vậy tạng phủ kinh lạc lại vận động rất mạnh mẽ, cho nên tĩnh công trên thực tế là ngoại tĩnh nội động. Bài viết này xin giới thiệu phương pháp tập luyện nội dưỡng công và cường tráng công để bạn đọc tham khảo và áp dụng.
Nội dưỡng công
Tác dụng của nội dưỡng công chủ yếu xác định cách thư giãn toàn bộ các cơ nhục ở tay, chân, thân thể và tạo thành một tư thế nhất định, kết hợp với phép thở, nhẩm một câu chú để tập trung ý thức (ý thủ) nhằm nâng cao sinh khí trong cơ thể từ đó mà có hiệu quả trong chữa bệnh.
Tư thế
Cách nằm :
Nội dưỡng công và cường tráng công trong đông y (Kỳ I)
Trước khi nằm, cần chuẩn bị một cái giường bằng gỗ cứng trải đệm cho bằng phẳng, để cho tư thế chính xác, gối đầu cần đặt cho vừa, khi trời lạnh nên lấy vải hay chăn đắp chân, nằm nghiêng (nằm nghiêng bên nào cũng được), đầu hơi thấp về phía trước, gối đầu lên gối cho bằng phẳng, hai mắt nhắm lại, để hơi lộ ra một tia sáng nhỏ, mắt nhìn vào đầu sống mũi, tập trung ý thức vào đan điền (ở dưới rốn 1 thốn 5 phân), tập cho tai lãng quên như không nghe thấy gì, miệng ngậm lại tự nhiên, thở đều nhẹ nhàng bằng mũi, cánh tay phía trên duỗi ra một cách rất tự nhiên, úp bàn tay xuống đùi, tay phía dưới để lên cái gối, mở ra tự nhiên, để ngửa bàn tay lên, cách xa đầu khoảng 2 thốn, lưng hơi uốn ra phía trước, đùi bên dưới duỗi ra hơi cong cong một cách tự nhiên, đùi bên phải co lại 1200, chồng lên trên đùi bên dưới. Xếp đặt tư thế xong, thì bắt đầu tập trung ý thức vào đan điền, rồi tiến hành phép hô hấp (Hình vẽ 1).
Cách ngồi :
Trước khi ngồi chuẩn bị một chiếc ghế đẩu vuông, bằng phẳng rộng, sau khi ngồi xuống, đầu gối co lại 900, bàn chân không được bỏ thõng (nếu thấy không vừa thì dưới bàn chân có thể dùng miếng gỗ hay viên gạch kê), người ngồi ngay thẳng yên ổn trên ghế, cố định tư thế cho tốt, không nên đưa người về phía trước, phía sau và hai bên, đầu hơi cúi về phía trước, đặt mông ngồi bằng phẳng thân mình với hai đùi trên làm thành góc 90o, hai đùi mở ra, hai chân và hai vai rộng ngang nhau, người béo thì hai đùi cách nhau rộng hơn, đầu gối co lại 900, hai ống chân không nên co về phía sau hay phía trước, hai bàn chân để cho bằng nhau sát đất, hai tay đặt lên trên hai đùi, bàn tay úp xuống cho bằng phẳng tự nhiên, nửa người trên không ưỡn ra phía sau, xuôi vai xuống ép ngực lại. Khi ấy tập trung vào đan điền rồi bắt đầu thở còn tư thế của tai, mắt, miệng, mũi cũng như cách nằm.
Nằm ngửa :
Nội dưỡng công và cường tráng công trong đông y (Kỳ I)
Ngoài các vật liệu cần dùng cho cách nằm ra, lại phải dùng thêm một cái chăn bông hoặc cái đệm, kê cao đầu và ngửa người bên trên lên thành như hình cái bục dốc, đầu kê cao 25 phân, dưới vai kê cao 5 phân, dùng cách nằm ngửa, đầu phải được ngay thẳng, không nên để lệch sang hai bên, tập trung ý thức vào đan điền, rồi bắt đầu thở, hai đùi duỗi ra một cách tự nhiên và đều nhau, đầu chót hai bàn chân ngón chân ngược lên, hai cánh tay duỗi thẳng ra cho tự nhiên, đặt vào phía ngoài hai đùi; tư thế của mặt, tai, mắt, miệng, mũi cũng như cách nằm, hai mắt cũng để hé lộ một ít để thấy tia sáng, nhìn thẳng xuống đầu chót ngón chân.
Phương pháp
Cách thở:
Môi miệng hơi mím lại, thở ra hít vào bằng mũi, miệng nhẩm câu chú, khi hít hơi vào thì đầu lưỡi uốn lên thúc vào hàm trên, sau khi đã hít hơi vào, nửa chừng nên nín hơi lại một chút, đầu lưỡi nên uốn lên thúc vào hàm trên, sau khi đã hít hơi vào, nửa chừng nên nín lại một chút, đầu lưỡi không được máy động, vẫn cứ để dính ở hàm trên, khi thở hơi ra, thì đầu lưỡi buông xuống cho hơi thở ra. Cứ như thế mà làm đi làm lại cách thở. Thời gian nín thở lâu hay chóng có thể căn cứ vào tình trạng cụ thể của bệnh mà chỉ định cho phù hợp.
Nhẩm câu chú:
Khi thở người bệnh miệng phải nhẩm câu chú, bắt đầu nhẩm câu 3 chữ, sau căn cứ vào tình trạng của người bệnh, mà thêm dần lên hay không thêm, nhiều cũng không được quá 9 chữ, phương pháp cụ thể là khi nhẩm một chữ đầu thì hít hơi vào, khi nhẩm đến chữ giữa thì nín thở, số chữ ở khoảng giữa càng nhiều, thời gian nín thở càng lâu, nhẩm đến chữ cuối cùng thì thở hơi ra. Câu chữ dùng thường là: "Ta yên tĩnh", "Ta ngồi yên tĩnh". Đến câu chữ nhiều nhất như: "Ta ngồi yên tĩnh thân thể khỏe mạnh", hoặc "Ta ngồi yên tĩnh thân thể mới khỏe mạnh".
Cách thở áp dụng trong 3 chữ "Ta yên tĩnh" tiến hành như sau: Khi bắt đầu nhẩm chữ "ta" thì đầu lưỡi uốn lên, thúc sát vào hàm trên, khi nhẩm đến chữ "yên" thì nín thở, đầu lưỡi vấn cứ dính vào hàm trên không động, khi nhẩm đến chữ "tĩnh" thì buông đầu lưỡi xuống rồi thở ra.
Tập trung ý thức vào đan điền:
Tập trung ý thức vào đan điền là làm cho người bệnh tập trung tư tưởng để chuyên tâm luyện công. Bắt đầu khi mới luyện công, chú ý tập trung giữ cho tinh thần hướng vào đan điền, khi hít hơi vào cũng phải có ý thức đưa xuống đan điền, trải qua khoảng 20 ngày, người bệnh tự thấy khi mình hít hơi đã thấu suốt đến đan điền, rồi sau đó có thể đem phép "tập trung ý thức vào đan điền" đổi sang "tập trung ý thức vào ngón chân cái", lại trải qua một thời kỳ, nếu đã cảm thấy ngón chân có hiện tượng phát nóng, tư tưởng của người bệnh đã tập trung, tâm tình đã yên tĩnh, lòng nghĩ vơ vẩn đã hết thì cũng có thể bỏ phép tập trung ý thức đi, nếu chưa đạt được như thế thì phải tập lại từ đầu cho tới khi tập trung ý thức vào ngón chân, vào đan điền theo ý muốn.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Những triệu chứng giúp chẩn đoán bệnh lupus

Nếu một người có ít nhất 4 trong số 11 dấu hiệu (không nhất thiết xuất hiện cùng lúc) dưới đây thì có thể được chẩn đoán mắc bệnh lupus.
1.Nổi ban hình cánh bướm
Ban hình cánh bướm kéo dài trên má và mũi là triệu chứng rất đặc trưng của bệnh lupus.
Trong khi khoảng 30% bệnh nhân lupus thường có ban này, thì đây cũng có thể là do bệnh trứng cá đỏ hoặc các bệnh da khác, và chỉ riêng triệu chứng này là không đủ để chẩn đoán lupus.
2. Ban đỏ do ánh nắng mặt trời
Tiếp xúc với ánh nắng mặt trời hoặc các nguồn tia cực tím khác có thể làm trầm trọng ban hình cánh bướm của bệnh nhân. Bệnh cũng có thể gây loét các phần khác của cơ thể, thường là ở vùng tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, dẫn tới đau khớp và mệt mỏi. Bệnh nhân có làn da trắng dễ bị ảnh hưởng nhất.
Tuy nhiên, triệu chứng này có thể bị “lạm dụng” trong chẩn đoán. Thực tế là có nhiều người nhạy cảm với ánh nắng mặt trời.
3. Loét miệng hoặc mũi
Loét miệng là một trong những triệu chứng phổ biến nhất của bệnh lupus. Đặc trưng của loét miệng do lupus là thường không đau. Và thay vì hình thành ở hai bên miệng hoặc nướu, những vết loét này thường tập trung ở vòm miệng. Những vết loét liên quan tới lupus cũng có thể xuất hiện trong mũi.
4. Sưng khớp
Khớp đỏ, nóng, mềm và sưng lên có thể là dấu hiệu của bệnh lupus. Các triệu chứng đau và cứng khớp là chưa đủ để chẩn đoán; khớp thường bị ảnh hưởng bởi viêm khớp và những dấu hiệu viêm khác.
BS Michael Belmont, ở Bệnh viện các bệnh về khớp thuộc ĐH New York, Mỹ lưu ý rằng phải có ít nhất hai khớp, thường là khớp nhỏ, có triệu chứng trên kéo dài trong ít nhất 6 tuần thì triệu chứng sưng khớp này mới có giá trị chẩn đoán.
5. Viêm màng tim hoặc phổi
Viêm màng ngoài tim hoặc viêm màng phổi có thể là một dấu hiệu của lupus. Nhưng cả hai triệu chứng này lại thường do các bệnh virus.
Mặc dù hiếm khi viêm ảnh hưởng tới chức năng của tim hoặc phổi nhưng nó có thể gây đau ngực đột ngột, đặc biệt khi người bệnh ho hoặc thở sâu, có thể “châm ngòi” cho tình trạng khó thở.
6. Bất thường nước tiểu
Các tế bào máu vi thể và protein thường không có trong nước tiểu có thể xuất hiện trong mẫu nước tiểu của một số bệnh nhân lupus. Nhưng, cũng có nhiều bệnh gây nên tình trạng này bao gồm nhiễm trùng đường tiểu và sỏi thận.
Thận khỏe lọc protein ra khỏi máu khi nó tạo ra nước tiểu. Nhưng nếu thận bị viêm và hoạt động không hoàn hảo, như trong bệnh lupus, protein có thể hiện diện trong nước tiểu.
Những bất thường này thường không gây triệu chứng. Tuy nhiên, nếu giảm đáng kể protein (cụ thể là albumin), chân có thể bị sưng. Nếu bệnh tiến triển thành suy thận, người bệnh có thể bị buồn nôn và suy nhược.
7. Co giật hoặc loạn thần
Lupus có thể gây ra nhiều vấn đề ở não và hệ thần kinh, gồm các triệu chứng không đặc hiệu như lo âu, đau đầu, rối loạn thị lực. Tuy nhiên, có hai triệu chứng cụ thể là co giật và loạn thần, đó là tình trạng xa rời thực tế, và có thể bao gồm ảo tưởng và ảo giác.
Với các triệu chứng ít đặc hiệu như đau đầu, có thể khó nhận biết nó có phải do bệnh lupus hay không.
8. Thiếu máu
Thiếu máu hoặc không đủ số lượng hồng cầu là rất phổ biến, đặc biệt là ở phụ nữ. Ví dụ, thiếu máu thiếu sắt thường xuyên xảy ra trong kỳ kinh nguyệt. Cụ thể hơn đối với bệnh lupus là thiếu máu huyết tán - không chỉ bị giảm lượng máu mà các tế bào còn bị phá hủy.
9. Phát ban dạng đĩa
Phát ban dạng đĩa là triệu chứng khá điển hình trong bệnh lupus, các mảng da đỏ hình đĩa xuất hiện và lan dần, thường phát triển trên mặt, da đầu và cổ. Chúng thường để lại sẹo.
Mặc dù tương đối phổ biến trong bệnh lupus, ban dạng đĩa cũng có thể là triệu chứng độc lập của lupus dạng đĩa - một loại chỉ ảnh hưởng đến da.
10. Xét nghiệm ANA dương tính
Xét nghiệm kháng thể kháng nhân (ANA) là xét nghiệm sàng lọc bệnh lupus. Nếu kết quả là âm tính, bạn có thể yên tâm hoàn toàn là bạn không mắc bệnh. Nếu kết quả dương tính thì cũng chưa rõ ràng, khoảng 90-95% những người có xét nghiệm ANA dương tính không bị lupus.
ANA là các protein được cơ thể tạo ra, có thể gắn vào ADN và các chất khác bên trong tế bào. Nhưng vì chúng xuất hiện trong cơ thể không nhất thiết là chúng sẽ tấn công những chất này. Các kháng thể này được tìm thấy ở ít nhất 5% dân số chung, vì vậy, nhiều người xét nghiệm dương tính nhưng hoàn toàn khỏe mạnh hoặc không liên quan tới lupus.
11. Các xét nghiệm kháng thể khác
Để làm rõ những người có xét nghiệm ANA dương tính có bị lupus hay không, có thể cần làm xét nghiệm máu. Các bác sĩ tìm kiếm kháng thể gây rắc rối tiềm ẩn, sau đó, họ sẽ làm xét nghiệm kháng thể ADN kháng sợi đôi và kháng thể kháng Smith. Những xét nghiệm này ít có khả năng dương tính trừ khi bệnh nhân thực sự bị lupus. Tuy nhiên, một người có kết quả xét nghiệm âm tính có thể vẫn là bị lupus, mặc dù không có kết quả như vậy trong xét nghiệm ANA.
Những kháng thể xác định này là rất quan trọng đối với tính chính xác và độ tin cậy của chẩn đoán. Hàng loạt các xét nghiệm kết hợp với ANA sẽ cho kết quả đáng tin cậy.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Chụp cắt lớp cộng hưởng từ: Hy vọng mới trong cuộc chiến chống ung thư

Các nhà khoa học cho biết, từ trước đến nay máy chụp cắt lớp bằng cộng hưởng từ (MRI) thường được sử dụng để phát hiện ung thư, thì giờ đây nó có thể được sử dụng để điều trị khối ung thư hiệu quả.
Hy vọng cuộc cách mạng trong điều trị ung thư
Một nhóm các nhà khoa học Anh tại Đại học Sheffield áp dụng năng lượng từ trường của máy chụp cắt lớp MRI để kiểm soát sự hoạt động của một liệu pháp điều trị ung thư bằng thuốc tiêm được thiết kế đặc biệt. Thử nghiệm ở chuột cho thấy phương pháp mới này có hiệu quả nhưng cần nghiên cứu thêm trong nhiều năm nữa trước khi nó có thể sử dụng ở người bệnh. Hy vọng đây sẽ là cuộc cách mạng trong điều trị bệnh ung thư, nhất là các trường hợp không thể phẫu thuật được, như khối u ở não, ở cột sống hoặc trường hợp bệnh ung thư đã di căn khắp cơ thể.
Chụp cắt lớp cộng hưởng từ: Hy vọng mới trong cuộc chiến chống ung thư
Chụp cắt lớp bằng cộng hưởng từ giúp điều trị ung thư.
“Thuốc” tìm và diệt tế bào ung thư
Lợi ích của phương pháp MRI là nó có thể bào mòn các tế bào ung thư nhưng lại rất ít tổn thương đến các mô lành xung quanh. Các nhà khoa học đã thử nghiệm phương pháp này ở những con chuột bị ung thư tuyến tiền liệt đã di căn đến phổi. TS. Nick Peel, nhà nghiên cứu ung thư của Anh cho biết, họ đã sử dụng một loại thuốc ung thư đặc biệt, đó là các tế bào bạch cầu của con người đã được chỉnh sửa chứa một virut giết chết tế bào ung thư để điều trị cho những con chuột bị bệnh. Trước khi tiêm thuốc điều trị, họ cho “nhiễm từ tính” thuốc bằng cách tải nó với các hạt sắt cực nhỏ. Khi tiêm vào những con chuột, các nhà nghiên cứu đã sử dụng nam châm mạnh trong máy quét MRI để kiểm soát chặt chẽ sự di chuyển của thuốc.
Chụp cắt lớp cộng hưởng từ: Hy vọng mới trong cuộc chiến chống ung thư
Tương lai máy chụp cắt lớp cộng hưởng từ sẽ giúp điều trị ung thư.
TS. Munitta Muthana nói với bản tin đài BBC: “...Chúng tôi cần nhiều nghiên cứu hơn, nhưng hy vọng là chúng tôi sẽ có thể bắt đầu thử nghiệm phương pháp này ở người bệnh... và nếu có thể làm giảm thời gian cần thiết để một bệnh nhân ở dưới máy chụp cắt lớp. Liệu pháp này mất khoảng từ 30 phút tới 1 giờ ở chuột. Một lợi thế của việc sử dụng MRI là bạn cũng có thể theo dõi ở những nơi mà thuốc sẽ đến, nó có thể thực sự hữu ích”.

TS. Nick Peel, nhân viên thông tin khoa học cao cấp tại Viện Nghiên cứu ung thư Anh cho biết: “Sử dụng virut để tiêu diệt các tế bào ung thư là một trong nhiều cách mà các nhà nghiên cứu đang sử dụng các hệ thống miễn dịch nhằm tấn công ung thư nhưng đưa được virut chính xác vào mục tiêu là một thách thức thật sự. Nghiên cứu này ở chuột cho thấy rằng việc sử dụng một từ trường từ các máy chụp cắt lớp MRI có thể giúp thúc đẩy virut hướng về phía các khối ung thư bằng cách sử dụng các hạt nano kim loại. Đó là một ý tưởng hấp dẫn, nhưng còn cần nghiên cứu để xem liệu phương pháp này có thể hiệu quả ở người hay không, đặc biệt là đối với các khối u nằm sâu trong cơ thể...”.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317


Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Chữa đầy bụng khó tiêu bằng xoa bóp bấm huyệt

Chứng đầy bụng khó tiêu - một chứng bệnh thường gặp có ảnh hưởng chủ yếu bởi thói quen tiêu hóa, ngày nay đã không chỉ còn là vấn đề của tuổi già. Thực tế cho thấy ngày càng có nhiều người bệnh trẻ tuổi đến gặp bác sĩ với những than phiền về tình trạng đầy bụng, chậm tiêu, ăn kém ngon miệng...
Chữa đầy bụng khó tiêu bằng xoa bóp bấm huyệt
Theo YHCT, biểu hiện của chứng đầy bụng khó tiêu có thể xếp vào các chứng vị quản thống (đau dạ dày), ấu thổ (nôn mửa). Theo kinh nghiệm người xưa, châm cứu là một trong những phương pháp mang lại hiệu quả cao.
Các huyệt châm cứu có tác dụng điều trị chứng đầy bụng khó tiêu: Trung quản, nội quan, túc tam lý, công tôn, đản trung, phong long, hạ quản, toàn cơ; Có biểu hiện nhiệt chứng thêm: hợp cốc, nội đình; Có biểu hiện hàn chứng thêm: thượng quản, vị du; Có biểu hiện can khí hoành nghịch thêm dương lăng tuyền, thái xung; Tỳ vị hư yếu thêm tỳ du, chương môn.
Ngoài ra, để giúp tăng cường chức năng tiêu hóa, người bệnh có thể áp dụng các phương pháp xoa bóp bấm huyệt, tập dưỡng sinh... Bài viết sau xin được giới thiệu tới độc giả một bài tập tự xoa bóp bấm huyệt nhằm điều hòa nhu động ruột và tiết dịch của dạ dày, ruột, tăng cường chức năng hệ tiêu hóa.
Day bấm các huyệt: hợp cốc, túc tam lý, thái xung, công tôn, tam âm giao.
- Cách day bấm huyệt: Ngồi co hai chân lại mà lấy huyệt, rồi dùng ngón tay cái bấm vào huyệt công tôn, ngón tay trỏ bấm cố định vào huyệt thái xung, bấm mạnh dần tới căng tức (đắc khí), giữ nguyên như vậy 10 giây rồi day từ từ một phút sau chuyển sang các huyệt túc tam lý, tam âm giao, hợp cốc - cường độ và cách bấm, thời gian bấm như huyệt công tôn.
Xoa bóp tam tiêu:
Tam tiêu có chức năng là cơ quan bảo vệ bên ngoài của tạng phủ:
- Là đường đi của nguyên khí phụ trách hoạt động khí hóa.
- Là đường đi của các chất dinh dưỡng, thức ăn và nước.
- Khí trời hít vào phế, khí đất (thức ăn) sau khi tiêu hóa sẽ giao thoa, mượn đường đi của tam tiêu để đến toàn thân.
- Ở vùng bụng dưới (hạ tiêu) có bộ phận sinh dục, bàng quang, ruột già, ruột non, các đám rối thần kinh hạ vị.
- Ở vùng bụng trên (trung tiêu) có dạ dày, ruột non, tụy tạng, đám rối thần kinh gan và lách.
- Ở vùng ngực (thượng tiêu) có tim, phổi, đám rối thần kinh trung thất.
Kỹ thuật xoa bóp tam tiêu:
Tư thế: ngồi thõng chân hay nằm hơi chống chân.
- Xoa hạ tiêu: một tay nắm lại, tay kia úp lên trên để tăng áp lực. Xoa vòng một chiều từ 10 - 20 lần, ngược lại cũng từ 10 - 20 lần.
- Xoa trung tiêu: một tay nắm lại, tay kia úp lên trên để tăng áp lực. Xoa từ 10 - 20 lần mỗi chiều.
- Vuốt cạnh sườn: vuốt từ xương sườn cụt 12 theo bờ sườn đến vùng mỏm xương ức, thay đổi mỗi bên làm 10 lần. Động tác này có tác dụng tốt cho gan và lách.
- Xoa thượng tiêu: một bàn tay xòe ra áp lên ngực, bàn tay kia úp chồng lên. Xoa vòng trên vùng ngực một chiều từ 10 - 20 lần rồi đổi chiều ngược lại từ 10 - 20 lần.
- Vuốt bụng: sau khi xoa tam tiêu xong, hai tay hơi nắm lại để ở vùng hạ tiêu vuốt lên trung tiêu rồi thượng tiêu 5 - 10 lần. Động tác này làm khỏe cơ bụng, chữa sa tạng phủ, điều hòa khí huyết vùng bụng.
Liệu trình xoa bóp: tự xoa bóp thường xuyên đều đặn hàng ngày, một lần vào buổi sáng sớm và một lần vào buổi tối trước khi đi ngủ.
Vị trí các huyệt cần tác động:
Trung quản: giữa con đường từ mũi kiếm xương ức đến rốn.
Nội quan: từ chính giữa lằn chỉ cổ tay đo lên trên 2 thốn.
Túc tam lý: thẳng dưới hõm ngoài xương bánh chè 3 thốn, cách lồi củ trước xương chày 1 khoát ngón tay.
Công tôn: ở chỗ lõm bờ dưới trước đáy xương bàn chân thứ nhất, nơi tiếp giáp mu bàn chân và gan bàn chân.
Đản trung: giữa xương ức ngang đường giữa 2 núm vú (nam giới), ngang liên sườn 4 (nữ giới).
Phong long: từ huyệt túc tam lý đo xuống dưới 5 thốn, đo ngang ra ngoài một khoát ngón tay.
Hạ quản: nằm trên đường trắng giữa bụng, trên rốn 4 thốn.
Toàn cơ: là giao điểm giữa đường dọc giữa ức với đường ngang qua bờ trên sụn sườn 1.
Thượng quản: nằm trên đường trắng giữa bụng, trên rốn 5 thốn.
Hợp cốc: huyệt ở chỗ lõm giữa ngón cái và ngón trỏ, đặt đốt 2 ngón cái bàn tay bên đối diện lên hố khẩu bàn tay bên này, đầu ngón cái ở đâu thì huyệt nằm tương ứng tại chỗ đó (giáp xương bàn 2).
Nội đình: kẽ ngón chân 2 - 3 đo lên 0,5 thốn về phía mu chân.
Vị du: Từ dưới đốt sống thứ 12 đo ra 1,5 thốn.
Dương lăng tuyền: chỗ trũng giữa đầu xương chày và xương mác.
Thái xung: từ kẽ ngón chân 1 và 2 đo lên 1,5 thốn về phía mu chân.
Tỳ du: từ giữa đốt sống lưng 11 và 12 đo ngang ra 1,5 thốn.
Chương môn: tận cùng xương sườn 11 (để bệnh nhân nằm nghiêng lấy huyệt).
Tam âm giao: từ đỉnh giữa bờ trên mắt cá trong đo lên 3 thốn, huyệt cách bờ sau trong xương chày một khoát ngón tay.