Văn phòng Diện Chẩn Sống Khỏe_ Khu nhà 102 Ngõ 95 Chùa Bộc-Đống Đa-Hà Nội _ ĐT : 0906143408

Hướng dẫn lý thuyết và thực hành cơ bản cho những quí vị thực sự yêu thích Diện Chẩn . Hãy gọi cho chúng tôi để biết lịch .

Tư vấn sức khỏe , chẩn bệnh đưa ra phác đồ miễn phí.

Hiển thị các bài đăng có nhãn đường hô hấp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đường hô hấp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2015

Hít thở sao cho đúng?

Bình thường nếu không có bệnh về hô hấp thì ít ai để ý hằng ngày ta thở thế nào nông hay sâu, nhanh hay chậm, có đúng cách không.

Trong khi đó thở đúng cách sâu và đều có rất nhiều lợi ích cho sức khỏe.
Nhịp thở hoạt động vừa tự phát vừa tự ý
Ta không thể trực tiếp điều chỉnh cho tim đập nhanh hay chậm; dạ dày co bóp hay không, mạch máu thắt hay nở; tất cả những biến động đấy do thần kinh chỉ đạo, nhưng đều thoát khỏi ý muốn chúng ta. Trong tất cả các hoạt động nội tạng, chỉ có thở là vừa tự phát vừa có thể tự ý. Không để ý thì vận động tự phát, tùy theo các kích động thần kinh mà diễn ra nhanh hay chậm, với nhịp thở đều đặn hay rối loạn. Nhưng nếu ta chú ý điều khiển ta cũng có thể thở nhanh hay chậm, nông hay sâu đều hay không.
Thở đúng cách, lợi ích bất ngờTập thở bò
Lợi ích khi thở đúng cách
Khi chúng ta thở đúng cách, hơi thở sẽ làm trong sạch cơ thể bạn. Khi thở ra, nín thở đồng nghĩa với việc đưa các độc tố ra ngoài cơ thể và trong cơ thể bạn có một khoảng trống. Độc tố N2, CO2 tích tụ ở tim, do đó khi bạn hít vào và nín thở, khí độc trong người hòa trộn vào hơi thở sau đó máu thải khí độc và đẩy chúng ra ngoài qua hơi thở. Tư tưởng và hơi thở liên quan chặt chẽ với nhau (chẳng hạn khi bạn giận, nhịp thở sâu và dài; khi gặp người yêu thì nhịp thở ngắn, dồn dập; cảm xúc của bạn bình tĩnh thì hơi thở trở nên điều hòa, sâu và chậm hơn), nên hãy tập thở đồng thời với việc kiểm soát tư tưởng. Khi đó, bạn cũng có thể đưa luôn cả những suy nghĩ không tốt, tư tưởng đau khổ... ra ngoài theo hơi thở. Như vậy, nếu bạn thay đổi được nhịp điệu hơi thở, bạn sẽ thay đổi được trạng thái tư tưởng, suy nghĩ và cả lối sống của mình.
Tập thở phương pháp đơn giản thuận tiện
Có thể tập mọi lúc mọi nơi, tập thở ngay cả khi đi bộ, vừa đỡ mệt, vừa có tâm trạng sảng khoái. Phương pháp rất đơn giản, bạn chỉ việc kết hợp giữa bước chân và nhịp thở, tức là khi bước một bước lên thì thở ra; bước tiếp sau đó thì hít vào. Cùng với nhịp bước chân, lặp đi lặp lại "thở ra, hít vào-thở ra-hít vào". Nếu mỗi ngày bạn tập luyện từ 20 -30 phút thì sau 2 - 3 tháng, lượng serotonin - một chất được não sản xuất ra quyết định tâm trạng và khả năng tập trung của con người, sẽ tăng lên rất nhiều khiến bạn không cảm thấy mệt, khả năng tập trung cao, tính cách vững vàng.
Phương pháp thở bụng
Muốn tập thở trước hết phải tập động tác cơ bản là: thóp bụng thở vào - phình bụng thở ra. Lúc cơ hoành hạ xuống, các nội tạng trong bụng bị dồn xuống, bụng phình lên, lúc ấy không khí bị hút vào vì vậy có động tác "phình bụng thở vào". Lúc cơ hoành nâng lên, không khí bị đẩy ra, các nội tạng trong bụng bị kéo theo, bụng thóp lại vì vậy có động tác "thóp bụng thở ra"
Bình thường cho không khí qua mũi, nhưng nếu cần lấy hơi lại rất nhanh như trong lúc bơi lội, lúc trèo cầu thang thật nhanh hoặc sau một vận động mạnh thì cho không khí qua miệng. Lúc mới tập cho không khí qua miệng lúc thở ra, qua mũi lúc thở vào. Tập quen rồi cho không khí qua mũi lúc thở vào cũng như lúc thở ra.
Cách tập thở đúng
Ngồi trên ghế tay thả lỏng, không nhúc nhích hai vai nghĩ rằng mình đang cầm một bát cháo nóng, thổi nhè nhẹ qua miệng làm cho cháo nguội dần, thổi rất chậm, thóp bụng để thổi ra. Khi bụng thóp hết, ngừng thổi cho bụng phình trở lại nhẹ nhàng để thở vào. Bụng phình lên hết, ngưng một tý rồi thở ra, làm 4-5 như vậy rồi nghỉ.
1- Động tác thóp bụng, phình bụng làm quen rồi, không cần cho không khí qua miệng nữa. Sau đó chỉ cho qua mũi ra vào đều qua mũi.
2- Tập thở như vậy trong các tư thế: nằm ngửa (2 chân gấp), nằm sấp, nằm nghiêng một bên, bò bốn chân, qùy gấp lưng đứng thõng tay phía trước...
3- Cho thóp bụng vào, phình ra thật nhanh.
4- Thóp bụng đến cùng, xong dùng các cơ sườn kéo lồng ngực lên nhưng không cho không khí vào phổi, bụng sẽ thóp đến mức tối đa.
5- Nhờ một người lấy nắm tay, ấn mạnh vào bụng đồng thời giữ hơi mạnh, không cho người kia ấn sâu vào bụng, như vậy là tập thở nén.
6- Co rút cơ bụng bên phải rồi bên trái, thành một động tác xoắn bụng.
Tóm lại, thở, suy nghĩ và tư tưởng có mối liên hệ sâu xa. Tư tưởng bình yên nhờ sự luân phiên vào ra của việc thở sâu, điều hòa. Bởi vậy, duy trì nhịp nín thở khi hít vào và thở ra bằng nhau như cách "thở bụng bốn thì" của các nhà dưỡng sinh, khí công và yoga được xem là phương pháp tốt nhất.

Ung thư phổi, bệnh nguy hiểm khó phát hiện sớm

Ung thư phổi và gan được đánh giá là 2 trong 10 loại ung thư phổ biến nhất khu vực Đông Nam Á cũng như tại Việt Nam. Ở nước ta tình hình bệnh ung thư phổi khá nặng nề, số bệnh nhân ngày càng tăng. Tại Hà Nội, ước tính trong 100.000 người dân thì có 40 người được chẩn đoán bị ung thư phổi, trong khi đó tại TPHCM con số này là 30 người.

Bệnh ung thư có thể được điều trị dứt điểm nếu được phát hiện sớm. Ví dụ người ung thư phổi được phát hiện ở giai đoạn 1, tỷ lệ sống sót lên tới 70%.Nếu được phẫu thuật ở giai đoạn sớm, tỷ lệ sống sau 5 năm ở bệnh nhân ung thư phổi có thể đạt 40-50%. Bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn muộn (không còn khả năng phẫu thuật), tỷ lệ tử vong trong vòng 6 tháng tới một năm là 90%.
ungthuphoi1-8285-1443060642.gif
Thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư phổi. Ảnh: Redorbit.
Phần lớn bệnh nhân ở Việt Nam được phát hiện ở giai đoạn muộn, không còn khả năng điều trị triệt để. Chỉ 10-20% số ca bệnh được phát hiện khi còn có khả năng cắt bỏ khối u.
Ở giai đoạn sớm, các triệu chứng ung thư phổi thường rất nghèo nàn và không đặc hiệu, khiến cho việc chẩn đoán hết sức khó khăn. Ho là triệu chứng thường gặp nhất (70-90% số ca bệnh). Tuy nhiên ho cũng xuất hiện trong nhiều bệnh lý khác nên bệnh nhân và thậm chí cả thầy thuốc cũng ít nghĩ tới ung thư phổi khi có triệu chứng này. Ung thư phổi giai đoạn sớm cũng có thể gây ho ra máu, đau ngực, khó thở, đau khớp xương, khàn tiếng, sụt cân... nhưng các biểu hiện này ít xuất hiện.
Theo GS Mai Trọng Khoa, Giám đốc Trung tâm y học hạt nhân và ung bướu, BV Bạch Mai (Hà Nội), ung thư phổi là bệnh lý ác tính, đã có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị nhưng tiên lượng vẫn còn dè dặt. Bệnh phát triển âm thầm, triệu chứng nghèo nàn hoặc không có triệu chứng.
Dấu hiệu bệnh gợi ý: Thường là nam giới trên 40 tuổi, nghiện thuốc lá, thuốc lào, ho khan kéo dài, có thể có đờm lẫn máu, điều trị kháng sinh không hiệu quả. Giai đoạn tiến triển, triệu chứng đa dạng tùy theo vị trí u, mức độ lan rộng của tổn thương. Người bệnh có thể thấy đau ngực, đau dai dẳng, cố định một vị trí; khó thở khi khối u to, chèn áp, bít tắc đường thở; khó nuốt, nuốt đau; hồi hộp, tim đập nhanh...
Thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư phổi. Ước tính 90% trường hợp ung thư phổi là người nghiện thuốc lá. Hút thuốc lá chủ động làm tăng nguy cơ mắc bệnh lên 13 lần. Tiếp xúc lâu dài với khói thuốc lá (hút thuốc bị động) cũng làm tăng nguy cơ.
Để phòng bệnh, không nên hút thuốc lá, có chế độ dinh dưỡng, sinh hoạt, làm việc lành mạnh, cần thăm khám sức khỏe định kỳ, đặc biệt khi có các triệu chứng ho kéo dài, đau ngực... Bệnh khó sàng lọc, phát hiện sớm. Những người có nguy cơ cao (nghiện thuốc lá, thuốc lào) có thể làm xét nghiệm tìm tế bào ác tính trong đờm, xét nghiệm máu tìm một số chất chỉ điểm khối u (CEA, cifra 21-1, SCC...) và chụp X-quang phổi hàng năm.

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2015

Phòng ngừa khản tiếng, mất tiếng khi thời tiết chuyển mùa

Hiện nay, môi trường ngày càng ô nhiễm, thời tiết thay đổi đột ngột khiến cho các bệnh đường hô hấp gia tăng nhanh hơn. Đặc biệt, khi thời tiết chuyển mùa, trời đột nhiên nóng hoặc lạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn, virus, nấm mốc phát triển. Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn tới khản tiếng, mất tiếng, triệu chứng điển hình của viêm thanh quản.
Những yếu tố gây khản tiếng, mất tiếng
Con người phát âm được là nhờ vào thanh quản, bao gồm 2 dây thanh đới, khi rung lên tạo nên âm sắc cho giọng nói. Do đó, khi dây thanh bị kích ứng hoặc tổn thương sẽ ảnh hưởng đến giọng nói, gây khản tiếng, thậm chí là mất tiếng.
Phòng ngừa khản tiếng, mất tiếng khi thời tiết chuyển mùa
Thời tiết chuyển mùa gây nên tình trạng khản tiếng, mất tiếng
Viêm thanh quản là do lớp niêm mạc thanh quản bị viêm, dẫn tới khản tiếng, mất tiếng. Đối tượng dễ gặp phải là trẻ nhỏ hay người già do sức đề kháng kém và những người phải nói nhiều hoặc ở lâu ngoài trời do tính chất công việc.
Viêm thanh quản thường xảy ra sau đợt viêm nhiễm của đường hô hấp trên (mũi – xoang, họng), hoặc có thể xuất hiện ngay sau khi bị cảm lạnh với dấu hiệu chính là khản tiếng, mất tiếng đột ngột. Ban đầu, người bệnh cảm thấy nhức đầu, sốt nhẹ, mệt mỏi, họng khô rát, ho khan. Tiếp đến, giọng bị khản, có lúc bị khản đặc, thậm chí là mất tiếng. Viêm thanh quản cấp nếu không được điều trị triệt để sẽ tái phát nhiều lần và dễ chuyển sang giai đoạn mạn tính.
Phòng ngừa khản tiếng, mất tiếng khi thời tiết chuyển mùa
Viêm thanh quản khiến người bệnh khó chịu, mệt mỏi
Biện pháp phòng ngừa và điều trị viêm thanh quản

Để điều trị viêm thanh quản, bác sĩ thường dùng cho bệnh nhân các loại thuốc kháng sinh, giảm phù nề, giảm ho, long đờm khi có bội nhiễm. Tuy nhiên, việc lạm dụng các loại thuốc này sẽ gây ra tình trạng nhờn thuốc hoặc bị ảnh hưởng bởi một số tác dụng phụ. Trên thực tế, bệnh nhân cũng tự trang bị cho mình những cách chữa trị đơn giản như: xông hơi, uống nước ấm pha mật ong và chanh, súc miệng bằng nước muối… Tuy nhiên, những công việc này thường tốn khá nhiều thời gian chuẩn bị và không mang lại hiệu quả cao đối với những trường hợp đã bị viêm thanh quản mạn tính.


Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015

Virut - nguyên nhân chủ yếu gây viêm cơ tim

Viêm cơ tim là tình trạng viêm, hoại tử hoặc ly giải của tế bào cơ tim gây nên do nhiễm khuẩn, do bệnh mô liên kết, do nhiễm độc hoặc không rõ nguyên nhân. Các quá trình bệnh lý này ảnh hưởng đến cơ tim kèm theo hoặc không kèm theo triệu chứng toàn thân. Những biểu hiện thường gặp nhất là triệu chứng của suy tim, tuy nhiên đôi khi là rối loạn nhịp tim hoặc đột tử là biểu hiện đầu tiên của bệnh. Cho đến thời điểm hiện nay,viêm cơ tim vẫn là một trong những bệnh lý nguy hiểm.
Những năm trước đây, thấp khớp cấp là nguyên nhân thường gặp của viêm cơ tim. Ngày nay, chúng ta biết thêm nhiều nguyên nhân khác như virut, vi khuẩn, ký sinh trùng, một số hóa chất và thuốc có khả năng gây dị ứng hoặc nhiễm độc, các bệnh hệ thống... Virut là nguyên nhân chủ yếu gây viêm cơ tim hiện nay, trong đó hay gặp là Coxsakie virus B, Adenovirus, virut cúm, virut dengue và virut viêm gan C đều có thể gây viêm cơ tim. Virut HIV có khả năng xâm nhập cơ tim trực tiếp. Tỷ lệ mắc bệnh không được biết rõ do có nhiều trường hợp viêm cơ tim nhẹ tự khỏi nên người bệnh và gia đình không nhận thấy, do vậy cũng không đến bệnh viện khám. Viêm cơ tim do virut thường xảy ra rải rác, tuy nhiên đôi khi cũng xảy ra thành dịch.
Virut - nguyên nhân chủ yếu gây viêm cơ tim
Viêm cơ tim là tình trạng viêm, hoại tử hoặc ly giải của tế bào cơ tim do nhiễm khuẩn, do bệnh mô liên kết, do nhiễm độc hoặc không rõ nguyên nhân.
Viêm cơ tim do virut có biểu hiện bằng một tình trạng viêm rất đột ngột, đặc trưng bởi sự thâm nhiễm tế bào viêm, thoái hóa và hoại tử tế bào cơ tim, sau đó là quá trình xơ hóa của cơ tim. Một hình thức khác của viêm cơ tim do virut là ARN hoặc ADN, vật chất di truyền của virut, có thể tồn tại lâu dài trong cơ tim. Cơ thể chống lại tình trạng này bằng những phản ứng miễn dịch. Tuy nhiên những phản ứng miễn dịch này cùng với sự phát triển không bình thường của virut lại làm suy giảm chức năng tim mà không có sự tiêu tế bào rõ rệt. Hậu quả cuối cùng của các quá trình bệnh lý phức tạp trên, thường là bệnh cơ tim giãn.
Bệnh nhân nhập viện hầu hết đã có biến chứng nặng
Hầu hết các virut thâm nhập cơ thể qua đường hô hấp trên hay đường tiêu hóa. Cơ thể con người dễ bị nhiễm virut hơn khi bị suy dinh dưỡng, tập luyện hay làm việc quá sức, trẻ nhỏ hay người lớn tuổi, căng thẳng stress... do làm thay đổi đáp ứng tự miễn dịch khi bị nhiễm virut. Bệnh nhân thường không để ý do vậy chậm trễ nhiều ngày đến nhiều tuần trước khi triệu chứng ở tim xuất hiện như suy tim ứ huyết, rối loạn nhịp tim (đột tử) và biến chứng thuyên tắc mạch. Biểu hiện lâm sàng tùy thuộc vào lứa tuổi bị bệnh và bản chất cấp tính hay mạn tính của tình trạng nhiễm virut.
Trẻ sơ sinh thường biểu hiện bằng sốt cao, suy tim, suy hô hấp nặng, tím tái, tiếng tim nghe xa xăm, mạch nhanh nhỏ, hở van hai lá do vòng van bị giãn rộng, nhịp ngựa phi, nhiễm toan và sốc. Chụp Xquang tim phổi thường thấy bóng tim to, phổi ứ huyết, có thể có hình ảnh tràn dịch màng phổi hai bên. Điện tâm đồ có thể thấy nhịp nhanh xoang, điện thế giảm, bất thường về đoạn ST cũng như sóng T. Đôi khi rối loạn nhịp tim là biểu hiện đầu tiên của bệnh. Lúc này các triệu chứng như sốt và tim to gợi ý viêm cơ tim cấp.

Ở trẻ lớn hơn, viêm cơ tim cấp cũng biểu hiện bằng suy tim ứ huyết cấp, nhưng thường gặp hơn là suy tim tiến triển từ từ hoặc tình trạng nhịp nhanh thất xảy ra đột ngột. Những bệnh nhân này, tình trạng nhiễm virut cấp tính đã qua và thường có tình trạng bệnh cơ tim giãn. Đôi khi bệnh nhân có triệu chứng giống như bị nhồi máu cơ tim cấp tính: đoạn ST chênh lên, tăng men tim CK, CK-MB, rối loạn vận động vùng, nhưng chụp động mạch vành bình thường. Chẩn đoán dựa vào sinh thiết cơ tim. Rối loạn vận động vùng sẽ hồi phục theo thời gian.