Văn phòng Diện Chẩn Sống Khỏe_ Khu nhà 102 Ngõ 95 Chùa Bộc-Đống Đa-Hà Nội _ ĐT : 0906143408

Hướng dẫn lý thuyết và thực hành cơ bản cho những quí vị thực sự yêu thích Diện Chẩn . Hãy gọi cho chúng tôi để biết lịch .

Tư vấn sức khỏe , chẩn bệnh đưa ra phác đồ miễn phí.

Hiển thị các bài đăng có nhãn thuốc kháng sinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thuốc kháng sinh. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2015

Thuốc chống động kinh dùng không đúng gây tử vong?

Hiện nay có lời đồn đại về thuốc chống động kinh như: “Thuốc loại này là vô cùng độc hại và tác dụng phụ là vô cùng trầm trọng”, thậm chí: “Thuốc chống động kinh dùng thế nào đó có thể gây tử vong!”. điều này làm cho người bệnh động kinh hay người thân của họ không an tâm cho dùng thuốc chữa bệnh. Thực hư như thế nào?

Động kinh là sự rối loạn chức năng thần kinh trung ương theo từng cơn do có sự phóng điện đột ngột, quá mức của các tế bào thần kinh. Trong dân gian còn gọi động kinh là kinh phong, phong xù, kinh giật. Nếu được điều trị kịp thời và đúng cách, bệnh nhân động kinh có thể bình phục gần như hoàn toàn, hòa nhập tốt với xã hội và có cuộc sống ổn định.

Thuốc chống động kinh còn gọi là thuốc chống co giật được dùng hiện nay rất đa dạng. Việc lựa chọn thuốc điều trị sao cho phù hợp với tình trạng bệnh, khả năng kinh tế của bệnh nhân.

Mục tiêu của điều trị động kinh bằng thuốc là kiểm soát tối đa các cơn, với việc giảm thiểu các tác dụng phụ có hại của thuốc và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Các thuốc chống động kinh không điều trị khỏi hẳn bệnh động kinh, nhưng nếu dùng thuốc trong thời gian dài, khi ngừng thuốc có một số trường hợp cơn động kinh không tái phát. Nhưng để kiểm soát tốt thường là phải dùng thuốc lâu dài, thậm chí là suốt đời. Còn nếu để tình trạng cơn co giật kéo dài mà không được điều trị thì bệnh nhân có các nguy cơ: chậm phát triển thể chất, sa sút tâm thần, bệnh nhân bị cô lập với cuộc sống xã hội, chấn thương do co giật và có thể tử vong.
Tùy vào thời điểm ra đời có thể chia thuốc chống động kinh ra 2 nhóm
- Thuốc thế hệ cũ, ra đời các nay đã lâu đời (như phenobarbital lần đầu tiên được sử dụng vào năm 1912), gồm có: phenobarbital, carbamazepin, phenytoin, acid valproic hay valproat…
- Thuốc thế hệ mới, ra đời trong thời gian gần đây (như: pregabalin được sử dụng vào năm 2004), gồm có: gabapentin, lamotrigin, oxcarbazepin, topiramat, levetiracetam, pregabalin…
Thuốc chống động kinh mới hơn có xu hướng ít tác dụng phụ hơn nhưng hiệu quả điều trị chưa chắc hơn các thuốc cổ điển. Bởi vì, sự lựa chọn thuốc chống động kinh phụ thuộc vào đặc điểm của từng bệnh nhân, có bệnh nhân lại thích hợp với thuốc cổ điển hơn. Cả hai loại thuốc mới và cũ thường hiệu quả như nhau trong bắt đầu điều trị động kinh.
Người nhà nên giúp người bệnh tuân thủ việc uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ
Người nhà nên giúp người bệnh tuân thủ việc uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ
Trên các phương tiện thông tin đại chúng có khi nhận định chưa đúng khi nói về thuốc chống động kinh như: "thuốc loại này là vô cùng độc hại và tác dụng phụ là vô cùng trầm trọng". Ngoại trừ người ta dùng Gardenal (tên biệt dược trước đây của phenobarbital) dùng liều rất cao để tự tử, cho tới nay chưa có báo cáo chính thức nào cho thấy dùng thuốc chống động kinh ở liều điều trị lại làm cho bệnh nhân tử vong. 
Gardenal cũng là thuốc gây tác dụng phụ có hại vào loại bậc nhất của nhóm thuốc chống động kinh (như gây dị ứng nặng là hội chứng Lyell có thể đưa đến tử vong) và nay gần như không còn được dùng trị động kinh nữa. 
Các thuốc chống động kinh khác đang được sử dụng hiện nay đều không thỏa mãn tiêu chí đồn đại: "thuốc loại này là vô cùng độc hại và tác dụng phụ là vô cùng trầm trọng", cho nên người bệnh có thể an tâm dùng thuốc chữa bệnh.
Còn thắc mắc: "thuốc chống động kinh dùng không đúng gây tử vong" thì thế nào? Dùng không đúng thuốc chống động kinh có 2 trường hợp. Nếu dùng liều thuốc thấp không đủ thì nồng độ thuốc có trong cơ thể người bệnh dưới ngưỡng tác dụng điều trị của thuốc sẽ làm cho người bệnh phát bệnh lên cơn động kinh. Còn nếu dùng liều thuốc quá cao sẽ đưa đến ngộ độc thuốc đưa đến bị các rối loạn, như quá liều valproat có thể gây ngủ gà, blốc tim và hôn mê sâu; nếu được cấp cứu kịp sẽ chữa khỏi. Chỉ trừ trường hợp dùng thuốc trị động kinh có khoảng cách an toàn hẹp (khoảng cách giữa liều điều trị và liều chết quá nhỏ) như Gardenal thì dùng liều quá cao sẽ bị tử vong ngay (chính vì thế mà trước đây người ta hay dùng Gardenal để tự tử).
Bác sĩ chỉ định dùng thuốc chống động kinh cho người bệnh luôn lưu ý
- Khởi động việc điều trị chỉ bằng một thuốc. Bởi vì sử dụng phối hợp hai thuốc ngay từ đầu, nếu không có hiệu quả thì khó lòng có thể đánh giá được thuốc nào là thuốc không tác dụng.
- Khởi đầu bằng liều thấp nhất mà thuốc có tác dụng, tức liều có tác dụng ngăn chặn cơn động kinh xảy ra. Tránh dùng liều cao ngay từ đầu vì sẽ gây ra tác dụng phụ có hại.
- Uống đủ liều và liên tục trong thời gian mà bác sĩ chỉ định. Không được dừng bỏ thuốc, thậm chí chỉ một lần bỏ uống thuốc trong ngày. Chỉ cần bỏ một lần không uống vì bất kỳ lý do gì đều có thể làm giảm nồng độ dưới ngưỡng tác dụng điều trị của thuốc. Và bệnh động kinh có nguy cơ bị tái phát với mức độ nặng hơn, cơn mau hơn nếu bỏ thuốc như vậy.
- Sau 2 năm điều trị mà không thấy có một cơn động kinh nào tái diễn, bác sĩ tiến hành cho việc ngừng thuốc. Trước khi ngừng, phải giảm liều thuốc dần dần mà không dừng thuốc đột ngột. Nếu ngừng thuốc đột ngột sẽ gây động kinh tái diễn, động kinh xuất hiện mau hơn và cả động kinh kháng trị. Trước khi ngừng hẳn thuốc phải có thời gian giảm liều từ từ, kéo dài trong khoảng 3 - 6 tháng. Trong thời gian giảm liều mà có cơn động kinh xuất hiện thì lại phải tiếp tục điều trị động kinh trong tối thiểu 2 năm tiếp theo tính từ thời điểm dùng lại thuốc này. Như vậy, có khi người bệnh phải dùng thuốc kéo dài mãi.


Thứ Năm, 24 tháng 9, 2015

Cách chăm sóc người bệnh hôn mê trong sốt rét ác tính

Sốt rét ác tính là sốt rét có biến chứng với khả năng đe dọa tính mạng người bệnh và xảy ra khi bệnh nhân bị nhiễm loại ký sinh trùng Plasmodium falciparum hoặc nhiễm phối hợp có loại ký sinh trùng này. Theo các nhà khoa học, các trường hợp nhiễm loại ký sinh trùng Plasmodium vivax, Plasmodium knowlesi cũng có thể gây sốt rét ác tính; đặc biệt là ở các vùng có ký sinh trùng kháng thuốc chloroquin. Sốt rét ác tính thường gây nên tình trạng hôn mê, vì vậy cần biết cách chăm sóc bệnh nhân để hỗ trợ cho việc điều trị có hiệu quả.
Cách chăm sóc người bệnh hôn mê trong sốt rét ác tính
Người bệnh hôn mê do sốt rét ác tính cần được chăm sóc đặc biệt (ảnh minh họa)
Dấu hiệu của sốt rét ác tính và xử trí
Khi bị mắc bệnh sốt rét do nhiễm ký sinh trùng Plasmodium falciparum, nếu người bệnh không được phát hiện, xử trí, điều trị kịp thời, có hiệu quả thì rất dễ có nguy cơ chuyển sang sốt rét ác tính với những biến chứng trầm trọng gây hậu quả tử vong. Dấu hiệu dự báo sốt rét ác tính có biểu hiện rối loạn ý thức nhẹ, thoáng qua như li bì, cuồng sảng, vật vã...; sốt cao liên tục; rối loạn tiêu hóa như nôn, tiêu chảy nhiều lần trong ngày, đau bụng cấp; đau đầu dữ dội, thiếu máu nặng, da xanh, niêm mạc nhợt nhạt... Sau đó bệnh nhân chuyển sang sốt rét ác tính với các biểu hiện lâm sàng của biến chứng nặng như: rối loạn ý thức, hôn mê, mệt lả người, co giật, thở sâu và rối loạn nhịp thở, phù phổi cấp hoặc hội chứng suy hô hấp cấp, khó thở; suy tuần hoàn hoặc sốc, suy thận cấp, vàng da và niêm mạc, chảy máu tự nhiên hoặc tại chỗ tiêm truyền...
Khi phát hiện bệnh nhân sốt rét có dấu hiệu dự báo sốt rét ác tính hay đã chuyển sang sốt rét ác tính, cần phải nhanh chóng xử trí can thiệp bằng thuốc điều trị đặc hiệu và thực hiện các phương pháp điều trị hỗ trợ để hạ nhiệt độ cơ thể, cắt cơn co giật; chống sốc, suy hô hấp cấp, suy thận cấp; chống thiếu máu do huyết tán hoặc xuất huyết, hạ đường huyết, tiểu huyết cầu tố; điều chỉnh rối loạn nước, điện giải, kiềm toan và chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng người bệnh, cần lưu ý đến việc chăm sóc tình trạng hôn mê của bệnh nhân đúng theo yêu cầu cần thiết để hỗ trợ tích cực cho công tác điều trị biến chứng có hiệu quả nhằm giúp người bệnh khoát khỏi sự nguy kịch có thể dẫn đến tử vong.
Người bệnh bị hôn mê do sốt rét ác tính cần được thực hiện các biện pháp chăm sóc phối hợp đồng bộ như: làm thông khí đường hô hấp; hỗ trợ khắc phục biến chứng hô hấp, tuần hoàn, tiết niệu và vệ sinh, dinh dưỡng.
Thông khí đường hô hấp: Bằng cách làm thông thoáng đường thở, tránh ùn tắt các chất nôn, đờm dãi... Đặt ống canun miệng nếu có tụt lưỡi, hút đờm dãi trong khoang miệng và hầu họng. Lưu ý người bệnh bị hôn mê phải có y tá điều dưỡng chăm sóc, để bệnh nhân nằm với đầu cao 30-450, đầu nghiêng sang một bên để phòng ngừa tránh trào ngược các chất nôn từ dạ dày. Các trường hợp hôn mê có ứ đọng đờm dãi cần đặt nội khí quản và cho thở máy nếu có chỉ định.
Hỗ trợ khắc phục biến chứng hô hấp: Cho bệnh nhân thở ôxy với các mức độ khác nhau khoảng 3-5 lít/phút. Khi người bệnh khó thở hoặc có diễn biến nặng hơn trong quá trình điều trị, phải chuyển bệnh nhân đến nơi có điều kiện hồi sức cấp cứu để đạt ống nội khí quản và cho thở máy.

Hỗ trợ khắc phục biến chứng tuần hoàn: Phải kiểm tra tình trạng mất nước bằng cách đo huyết áp, mạch đập, độ đàn hồi của da; đo áp lực tĩnh mạch trung tâm nếu có điều kiện, độ ẩm của lưỡi, số lượng và màu sắc nước tiểu. Cần đặt một đường truyền tĩnh mạch để truyền thuốc, truyền dịch và lấy máu tĩnh mạch để xét nghiệm khi cần. Nên kiểm tra thường xuyên lượng dịch đưa vào cơ thể và lượng chất tiết thải ra của bệnh nhân qua dịch truyền, nước tiểu và phân; đồng thời ghi chính xác lượng dịch đưa vào cơ thể và lượng chất tiết thải ra qua phiếu theo dõi.

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

Phòng bệnh viêm xoang

Khi mắc bệnh viêm mũi - xoang cấp nếu không được điều trị kịp thời và đúng dễ chuyển thành mạn tính và có nguy cơ tái phát. Vì vậy, phòng bệnh là giải pháp tốt nhất để bảo vệ sức khỏe.
Để giữ họng và miệng không bị viêm sẽ hạn chế việc mắc viêm mũi xoang cũng như bệnh viêm xoang tái phát, bởi hệ thống xoang và các bộ phận đường hô hấp trên liên thông với nhau thì cần thường xuyên vệ sinh họng, miệng hàng ngày như đánh răng trước và sau khi ngủ dậy, sau mỗi bữa ăn và súc họng nước muối pha loãng.
Phòng bệnh viêm xoang
​Nội soi để chẩn đoán viêm mũi xoang.
Khi có biểu hiện của viêm mũi, viêm xoang, viêm đường hô hấp cần đi khám. Người bị viêm xoang và viêm xoang tái phát cần thiết điều trị theo đơn của bác sĩ, không nên tự mua thuốc kháng sinh để điều trị bệnh. Ở một số người nhất là trẻ em, niêm mạc mũi xoang nhạy cảm không tắm ở ao hồ dễ bị viêm mũi xoang tái phát.

Trường hợp bị viêm mũi dị ứng, tái đi tái lại nhiều lần, có các biểu hiện như chảy nước mũi, ngạt mũi, điếc mũi do thay đổi thời tiết có thể điều trị và dự phòng bằng cách sử dụng các vị thuốc thảo dược có tính ấm, tính kháng sinh tự nhiên như thương nhĩ tử, kim ngân hoa, phòng phong, bạc hà... để làm ấm cơ thể, tăng sức đề kháng, phòng bệnh viêm mũi viêm xoang khi mùa đông tới.Tránh uống rượu, bia quá nhiều, vì nó làm cho niêm mạc mũi xoang phù nề do vậy rất dễ đưa đến viêm xoang.


Thứ Hai, 7 tháng 9, 2015

Tác dụng của men tiêu hóa

Hiện nay, nhiều bậc cha mẹ tin rằng sử dụng thường xuyên men tiêu hóasẽ giúp trẻ hay ăn, chóng lớn và nhanh chóng cải thiện tình trạng rối loạn tiêu hóa. Chính vì thói quen, sự thiếu hiểu biết và sự mập mờ của các nhà sản xuất khiến cho không ít các bậc cha mẹ lạm dụng men tiêu hóa, hễ thấy con lười ăn là tự ý mua về cho uống có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm cho trẻ. Các ông bố, bà mẹ cần tham khảo ý kiến thầy thuốc và phải tìm hiểu, chọn lựa kĩ sản phẩm trước khi sử dụng men tiêu hóa cho con em mình.
Tác dụng của men tiêu hóa
Men tiêu hóa là hỗn hợp các enzym khác nhau do chính cơ thể bài tiết ra có tác dụng chuyển hóa các chất trong thức ăn chủ yếu là chất đường (glucid), chất đạm (protein), chất béo (lipid). Chúng được bài tiết từ các cơ quan khác nhau trong hệ thống đường tiêu hóa bao gồm:
Tại miệng, men amylase (ptyalin) trong nước bọt có tác dụng phân giải tinh bột chín thành đường mantose.
Tại dạ dày, trong thành phần của dịch vị có các men tiêu hóa như:
Pepsin được bài tiết dưới dạng chưa hoạt động là pepsinogen. Trong môi trường toan (pH < 5,1) nó được hoạt hóa thành pepsin hoạt động, phân giải protein của thức ăn thành các mạch dài (polypeptra) hoặc ngắn (pepton).
Lipase có tác dụng tiêu hóa lipid của thức ăn đã được nhũ tương hóa (lipid của trứng và sữa) bằng cách cắt liên kết este giữa glycerol với acid béo thành acid béo và monoglycerid.
Men sữa - caseinogen (Lact - ferment remin) phối hợp với ion Ca++ phân giải protein hòa tan của sữa thành các caseinat canxi kết tủa được giữ lại ở dạ dày, còn phần lỏng gọi là nhũ thanh được đưa ngay xuống ruột non. Nhờ đó dạ dày có thể tiếp nhận một thể tích sữa lớn hơn dung tích của chính nó.
Tại tụy, cũng có đủ các loại men để tiêu hóa protein, lipid và glucid:
Men tiêu hóa protein gồm trypsin, chymotrysin và carboxypeptidase, có tác dụng phân giải protein của thức ăn thành polypeptid sau đó lại phân giải polypeptid thành các dipeptid acid amin.
Men tiêu hóa lipid bao gồm lipase phân giải được gần như hoàn toàn triglycerid của thức ăn do ở ruột có mật làm cho lipid của thức ăn bị nhũ tương hóa, phospholipase phân giải mọi loại phospholipid của thức ăn và cholesterol esterase phân giải este của cholesterol thành acid béo và sterol.
Men tiêu hóa glucid gồm amylaza phân giải cả tinh bột chín và sống thành maltose, maltase phân giải maltose thành glucose.

Dịch ruột cũng có đầy đủ các nhóm men tiêu hóa protein, lipid và glucid phân giải chất dinh dưỡng (chất bột, chất đạm, chất béo) ở giai đoạn cuối cùng thành những phân tử đơn giản để hấp thu qua thành ruột vào máu.