Văn phòng Diện Chẩn Sống Khỏe_ Khu nhà 102 Ngõ 95 Chùa Bộc-Đống Đa-Hà Nội _ ĐT : 0906143408

Hướng dẫn lý thuyết và thực hành cơ bản cho những quí vị thực sự yêu thích Diện Chẩn . Hãy gọi cho chúng tôi để biết lịch .

Tư vấn sức khỏe , chẩn bệnh đưa ra phác đồ miễn phí.

Hiển thị các bài đăng có nhãn tế bào da. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tế bào da. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 11 tháng 10, 2015

Những triệu chứng giúp chẩn đoán bệnh lupus

Nếu một người có ít nhất 4 trong số 11 dấu hiệu (không nhất thiết xuất hiện cùng lúc) dưới đây thì có thể được chẩn đoán mắc bệnh lupus.
1.Nổi ban hình cánh bướm
Ban hình cánh bướm kéo dài trên má và mũi là triệu chứng rất đặc trưng của bệnh lupus.
Trong khi khoảng 30% bệnh nhân lupus thường có ban này, thì đây cũng có thể là do bệnh trứng cá đỏ hoặc các bệnh da khác, và chỉ riêng triệu chứng này là không đủ để chẩn đoán lupus.
2. Ban đỏ do ánh nắng mặt trời
Tiếp xúc với ánh nắng mặt trời hoặc các nguồn tia cực tím khác có thể làm trầm trọng ban hình cánh bướm của bệnh nhân. Bệnh cũng có thể gây loét các phần khác của cơ thể, thường là ở vùng tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, dẫn tới đau khớp và mệt mỏi. Bệnh nhân có làn da trắng dễ bị ảnh hưởng nhất.
Tuy nhiên, triệu chứng này có thể bị “lạm dụng” trong chẩn đoán. Thực tế là có nhiều người nhạy cảm với ánh nắng mặt trời.
3. Loét miệng hoặc mũi
Loét miệng là một trong những triệu chứng phổ biến nhất của bệnh lupus. Đặc trưng của loét miệng do lupus là thường không đau. Và thay vì hình thành ở hai bên miệng hoặc nướu, những vết loét này thường tập trung ở vòm miệng. Những vết loét liên quan tới lupus cũng có thể xuất hiện trong mũi.
4. Sưng khớp
Khớp đỏ, nóng, mềm và sưng lên có thể là dấu hiệu của bệnh lupus. Các triệu chứng đau và cứng khớp là chưa đủ để chẩn đoán; khớp thường bị ảnh hưởng bởi viêm khớp và những dấu hiệu viêm khác.
BS Michael Belmont, ở Bệnh viện các bệnh về khớp thuộc ĐH New York, Mỹ lưu ý rằng phải có ít nhất hai khớp, thường là khớp nhỏ, có triệu chứng trên kéo dài trong ít nhất 6 tuần thì triệu chứng sưng khớp này mới có giá trị chẩn đoán.
5. Viêm màng tim hoặc phổi
Viêm màng ngoài tim hoặc viêm màng phổi có thể là một dấu hiệu của lupus. Nhưng cả hai triệu chứng này lại thường do các bệnh virus.
Mặc dù hiếm khi viêm ảnh hưởng tới chức năng của tim hoặc phổi nhưng nó có thể gây đau ngực đột ngột, đặc biệt khi người bệnh ho hoặc thở sâu, có thể “châm ngòi” cho tình trạng khó thở.
6. Bất thường nước tiểu
Các tế bào máu vi thể và protein thường không có trong nước tiểu có thể xuất hiện trong mẫu nước tiểu của một số bệnh nhân lupus. Nhưng, cũng có nhiều bệnh gây nên tình trạng này bao gồm nhiễm trùng đường tiểu và sỏi thận.
Thận khỏe lọc protein ra khỏi máu khi nó tạo ra nước tiểu. Nhưng nếu thận bị viêm và hoạt động không hoàn hảo, như trong bệnh lupus, protein có thể hiện diện trong nước tiểu.
Những bất thường này thường không gây triệu chứng. Tuy nhiên, nếu giảm đáng kể protein (cụ thể là albumin), chân có thể bị sưng. Nếu bệnh tiến triển thành suy thận, người bệnh có thể bị buồn nôn và suy nhược.
7. Co giật hoặc loạn thần
Lupus có thể gây ra nhiều vấn đề ở não và hệ thần kinh, gồm các triệu chứng không đặc hiệu như lo âu, đau đầu, rối loạn thị lực. Tuy nhiên, có hai triệu chứng cụ thể là co giật và loạn thần, đó là tình trạng xa rời thực tế, và có thể bao gồm ảo tưởng và ảo giác.
Với các triệu chứng ít đặc hiệu như đau đầu, có thể khó nhận biết nó có phải do bệnh lupus hay không.
8. Thiếu máu
Thiếu máu hoặc không đủ số lượng hồng cầu là rất phổ biến, đặc biệt là ở phụ nữ. Ví dụ, thiếu máu thiếu sắt thường xuyên xảy ra trong kỳ kinh nguyệt. Cụ thể hơn đối với bệnh lupus là thiếu máu huyết tán - không chỉ bị giảm lượng máu mà các tế bào còn bị phá hủy.
9. Phát ban dạng đĩa
Phát ban dạng đĩa là triệu chứng khá điển hình trong bệnh lupus, các mảng da đỏ hình đĩa xuất hiện và lan dần, thường phát triển trên mặt, da đầu và cổ. Chúng thường để lại sẹo.
Mặc dù tương đối phổ biến trong bệnh lupus, ban dạng đĩa cũng có thể là triệu chứng độc lập của lupus dạng đĩa - một loại chỉ ảnh hưởng đến da.
10. Xét nghiệm ANA dương tính
Xét nghiệm kháng thể kháng nhân (ANA) là xét nghiệm sàng lọc bệnh lupus. Nếu kết quả là âm tính, bạn có thể yên tâm hoàn toàn là bạn không mắc bệnh. Nếu kết quả dương tính thì cũng chưa rõ ràng, khoảng 90-95% những người có xét nghiệm ANA dương tính không bị lupus.
ANA là các protein được cơ thể tạo ra, có thể gắn vào ADN và các chất khác bên trong tế bào. Nhưng vì chúng xuất hiện trong cơ thể không nhất thiết là chúng sẽ tấn công những chất này. Các kháng thể này được tìm thấy ở ít nhất 5% dân số chung, vì vậy, nhiều người xét nghiệm dương tính nhưng hoàn toàn khỏe mạnh hoặc không liên quan tới lupus.
11. Các xét nghiệm kháng thể khác
Để làm rõ những người có xét nghiệm ANA dương tính có bị lupus hay không, có thể cần làm xét nghiệm máu. Các bác sĩ tìm kiếm kháng thể gây rắc rối tiềm ẩn, sau đó, họ sẽ làm xét nghiệm kháng thể ADN kháng sợi đôi và kháng thể kháng Smith. Những xét nghiệm này ít có khả năng dương tính trừ khi bệnh nhân thực sự bị lupus. Tuy nhiên, một người có kết quả xét nghiệm âm tính có thể vẫn là bị lupus, mặc dù không có kết quả như vậy trong xét nghiệm ANA.
Những kháng thể xác định này là rất quan trọng đối với tính chính xác và độ tin cậy của chẩn đoán. Hàng loạt các xét nghiệm kết hợp với ANA sẽ cho kết quả đáng tin cậy.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Ung thư dễ gây tổn hại cho tim

Một báo cáo của các nhà khoa học Áo đăng trên tạp chí Tim mạch ngày 28/9 cho biết, người bị ung thư ngoài chịu nỗi đau khổ thầm lặng còn bị tổn thương tim do căn bệnh ác tính này mang lại. Các nhà nghiên cứu phát hiện các bệnh nhân mới được chẩn đoán ung thư mang nồng độ hormon máu cao và hóa chất trong cơ thể cho thấy dấu hiệu của bệnh tim.
Những dấu hiệu hóa học về bệnh tim tăng lên với mức độ nghiêm trọng của bệnh ung thư và có liên quan chặt chẽ với nguy cơ tử vong cao hơn. Các phát hiện cho thấy, ung thư có thể làm tổn thương đến các mô tim, mặc dù người bệnh đó có thể không có biểu hiện lâm sàng của bệnh tim.
TS.Ana Barac - Chủ nhiệm Khoa Ung thư thuộc Cao đẳng tim mạch Mỹ nói rằng, nghiên cứu này có thể là cách tiếp cận mới cho các bác sĩ tìm hiểu ung thư và bệnh tim. TS. Barac đồng thời là Giám đốc Chương trình phục hồi chức năng tim mạch của Bệnh viện trung tâm Washington MedStar cho biết, các bác sĩ chuyên khoa ung thư và tim mạch thường chỉ tập trung vào những bệnh của chuyên khoa đã định.
Nghiên cứu nói trên tập trung vào 555 bệnh nhân được điều trị ung thư tại Bệnh viện đa khoa Vienna. Trước khi các bệnh nhân ung thư bắt đầu quá trình điều trị mà họ có thể đã bị tổn hại tim, các nhà nghiên cứu thực hiện một bảng điều khiển các xét nghiệm để kiểm tra dấu hiệu của bệnh tim. Các xét nghiệm xem xét nồng độ trong máu của một số hormon liên quan đến bệnh tim, một số protein liên quan đến viêm nhiễm và một hóa chất gọi là troponin nhạy cảm cao (loại protein điều tiết lượng canxi trong cơ bắp) điều chỉnh co bóp cơ tim.
Các nhà nghiên cứu theo dõi sự tiến triển của bệnh nhân trong hai năm. Trong thời gian này, khoảng một phần ba bệnh nhân tử vong. Phân tích các mẫu máu của họ cho thấy, nồng độ troponin và tất cả các kích thích tố tăng song song với mức độ nghiêm trọng của bệnh ung thư và trong một số trường hợp cao hơn 100 lần so với dự đoán.
BS.Alexander Lyon - giảng viên cao cấp Khoa Tim mạch tại Trường Imperial College London cho biết: “ung thư có thể còn trực tiếp gây tổn hại cho tim bằng cách giải phóng các hóa chất độc gây tổn hại cơ tim”.


Thứ Hai, 28 tháng 9, 2015

Chớ chủ quan với 5 dấu hiệu cảnh báo sức khỏe của bạn

Chớ chủ quan với 5 dấu hiệu cảnh báo sức khỏe của bạn
Trong cuộc sống, có những dấu hiệu cảnh báo sức khỏe mà đôi khi ta hay chủ quan, không chú ý. Hãy bảo vệ sức khỏe của mình trước khi quá muộn bằng cách đi khám để được tư vấn và điều trị sớm.
Chớ chủ quan với 5 dấu hiệu cảnh báo sức khỏe của bạn (Ảnh minh họa)Chớ chủ quan với 5 dấu hiệu cảnh báo sức khỏe của bạn (Ảnh minh họa)
Dấu hiệu ra mồ hôi buổi sáng
Buổi sáng thức dậy người ướt đẫm mồ hôi, có thể do nhiều nguyên nhân: Lượng đường trong máu thấp, cơ thể bị mất cân bằng âm dương và chức năng của nội tạng đang bị rối loạn… Trong các bữa ăn bạn cần chú ý ăn nhiều hoa quả và các loại rau giàu vitamin hơn.Nếu bạn đang uống thuốc trị các bệnh như: Tiểu đường, lao, tăng tuyến giáp… bạn nên tư vấn bác sĩ để kê các loại thuốc làm cơ thể ít ra mồ hôi hơn
Dấu hiệu sụt cân không lý do
Sụt cân mặc dù vẫn thèm ăn bình thường hoặc mất cảm giác ngon miệng kéo dài hơn vài tuần mà không có bệnh; hoặc cảm thấy mệt mỏi và mệt mỏi kéo dài vài tuần.
Dấu hiệu khó nuốt
Khó nuốt chất rắn, chất lỏng và triệu chứng này ngày càng tồi tệ hơn sau đó. Những dấu hiệu này có thể đơn giản chỉ là nhiễm nấm, nhưng cũng có thể là ung thư và nếu phát hiện sớm thì có thể chữa được.
Dấu hiệu hơi thở có mùi
Hơi thở buổi sáng có liên quan trực tiếp đến chế độ ăn uống và sinh hoạt của bạn, bạn nên tránh các đồ uống có chất kích thích. Ngoài ra, hơi thở có mùi nặng vào buổi sáng cũng là dấu hiệu để bạn chú ý hơn đến gan và dạ dày của mình.Bạn không nên ăn nhiều vào buổi tối; hạn chế ăn các loại thịt, chất béo khó tiêu; ăn nhiều hoa quả và rau xanh. Đánh răng sau khi ăn xong. Nên kết hợp dùng thêm các loại nước súc miệng và kẹo cao su.
Dấu hiệu ngứa hoặc da có vảy sừng hay chảy máu
Đây là những dấu hiệu ít phổ biến hơn, nhưng không nên bỏ qua. Điều quan trọng là đi khám bác sĩ nếu bạn có bất kỳ dấu hiệu bất thường trên da kéo dài vài tuần.

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2015

Nhận biết một số bệnh da do virut

Ở những nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm như nước ta, các bệnh ngoài da phát triển mạnh và là nỗi lo lắng của nhiều người, vì ngoài việc gây các khó chịu, đau đớn, còn ảnh hưởng thẩm mỹ. Bài viết này cung cấp thông tin về một số bệnh trên da do nguyên nhân virut, tổn thương rất đặc trưng và là dạng bệnh dễ lây truyền.
Bệnh Zona (giời leo)
Bệnh Zona là kết quả của sự tái hoạt động của virut Herpes zoster (varicella-zoster virus hoặc VZV). Virut này cũng chính là tác nhân gây ra bệnh thủy đậu ở trẻ em. Virut thủy đậu trú ngụ trong cơ thể ở trạng thái ngủ bên trong các dây thần kinh cảm giác. Sau đó, virut sẽ đi dọc theo dây thần kinh cảm giác vào da và tạo ra những mảng phát ban gây đau thường gọi là bệnh Zona.
Nhận biết một số bệnh da do virut
Tổn thương do zona thần kinh.
Triệu chứng đầu tiên của Zona thường là tăng cảm giác da hoặc cảm giác đau ở một phía của cơ thể. Những cảm giác da có thể gặp là ngứa, căng, bỏng, nhức dai dẳng hoặc đau sâu, đau nhói. Thông thường thì sau khi cơn đau xuất hiện được 1-3 ngày các dải ban sẽ nổi lên, tấy đỏ, phồng lên ở ngay vị trí đau. Sau đó nó sẽ tụ mủ và đóng vảy trong 10-12 ngày. 2-3 tuần sau, ban sẽ biến mất, vảy rơi và có thể để lại sẹo nếu tổn thương bị bội nhiễm.
Trước hoặc cùng với tổn thương da, thường nổi hạch sớm, đau ở vùng tương ứng. Hạch là dấu hiệu quan trọng để chẩn đoán. Rối loạn cảm giác rất thường gặp. Biểu hiện: đau dây thần kinh từng cơn lan tỏa hoặc thành “điểm đau nhói” dai dẳng, cảm giác rát, nóng, khu trú ở vùng đau sau Zona. Ở người cao tuổi, đau sau Zona thường dữ dội và khá dai dẳng.
Bệnh Ecpet (bệnh Herpes - mụn rộp)
Bệnh do virut Herpes simplex gây ra. Virut Herpes simplex có 2 nhóm. Herpes simplex nhóm II gây mụn rộp bộ phận sinh dục, nhóm I gây ra mụn rộp môi. Khoảng 80% dân số nhiễm virut này, nhưng bình thường chúng nằm yên trong cơ thể, chỉ có khoảng 25% phát bệnh, khi có điều kiện thuận lợi. Mỗi đợt bệnh kéo dài 1-3 tuần, tùy người một năm tái phát 1-2 lần, cũng có khi 5-6 lần. Dấu hiệu dễ thấy là bị ngứa, nóng, rát, đỏ da, có cảm giác lăn tăn ở môi, miệng, má, cằm, mũi hoặc ở cơ quan sinh dục, sau đó xuất hiện những mụn nước nhỏ li ti, tập trung thành từng đám. Những mụn này chứa đầy dịch, khi bị vỡ, dịch chảy ra ngoài làm lây bệnh. Đường lây do tiếp xúc, chủ yếu qua môi (hôn, dùng chung khăn mặt) hoặc do lây truyền qua đường tình dục.
Trường hợp sức đề kháng yếu hoặc bị các bệnh làm suy giảm miễn dịch, bệnh thường nặng (lan rộng, kéo dài, có biến chứng). Còn lại đa số trường hợp khác, bệnh thường nhẹ, có thể tự khỏi trong vài tuần.
Bệnh hạt cơm (Verrues)
Hạt cơm là bệnh da thường gặp do virut HPV (Human Papilloma Virus) gây nên. Bệnh thường gặp ở nữ nhiều hơn nam. Hạt cơm có hai loại là hạt cơm thường và hạt cơm phẳng.
Hạt cơm thường: Do HPV týp 2 gây nên. Thương tổn là tổn thương sùi ra ngoài bề mặt hình bán cầu hoặc dẹt đường kính từ vài mm đến 1- 2cm, ở trung tâm có thể lõm xuống. Bề mặt hạt cơm tăng gai, thậm chí tạo thành rãnh, thành khía. Quanh các đám dầy sừng lại có những đám dầy sừng kế cận tạo thành như miệng giếng. Số lượng thay đổi từ một vài cái đến vài chục cái, đôi khi tập hợp lại. Vị trí hay gặp ở mu tay và các ngón, ít gặp ở lòng bàn tay. Hạt cơm ở tay được gây ra bởi HPV2 và HPV1 (13%). Hiếm gặp hơn là những tổn thương sùi ở trong hoặc ra ngoài, kết hợp với HPV4 hoặc HPV7.
Hạt cơm phẳng: Do HPV týp 3,10 gây nên. Tổn thương là những sẩn nhỏ hiếm khi nổi cao, màu vàng hoặc màu vàng nhạt, bề mặt bóng, mảnh, thường tập trung thành dải (do khi bệnh nhân gãi hạt cơm có thể mọc theo vết xước gọi là hiện tượng Kobner) hoặc tạo thành mảng, cảm giác thường hơi ngứa. Vị trí ưu thế ở mặt mu tay, ngón tay, cánh tay, đầu gối và mặt trước cẳng chân. Thường gặp ở người suy giảm miễn dịch, thương tổn nổi cao hoặc kích thước lớn. Nó tồn tại dai dẳng nhiều tháng hoặc nhiều năm, có thể có dấu hiệu viêm ở xung quanh hoặc có vòng giảm sắc tố.
Bệnh sùi mào gà vùng sinh dục - hậu môn
Sùi mào gà còn gọi là bệnh mụn cóc sinh dục, đó là bệnh sùi bộ phận sinh dục do Human Papilloma Virus (HPV) thuộc nhóm papova gây nên. Tổn thương là các mụn có nhiều gai nhỏ giống như mào gà, chai cứng gây ngứa, thỉnh thoảng có chảy máu, sần sùi như da cóc nên gọi là mụn cóc, khi các mụn này ở bộ phận sinh dục thì gọi là mụn cóc sinh dục. Tỷ lệ bệnh nhân bị mụn cóc sinh dục tăng rất nhanh trong những năm gần đây.
Sùi mào gà lây truyền qua quan hệ tình dục khi giao hợp không được bảo vệ, theo mọi hình thức, đặc biệt hình thức dương vật - hậu môn. Mọi biểu mô của tổn thương sùi bong ra đều có chứa HPV, do vậy sùi mào gà còn có thể lây truyền dễ dàng do tiếp xúc trực tiếp ở những nơi có tổn thương. Thời gian ủ bệnh của sùi mào gà khoảng 1- 6 tháng. Sùi mào gà tiến triển mạn tính, nhiều tháng đến nhiều năm, các triệu chứng không hề giảm đi mà trái lại ngày càng tăng nếu không được điều trị. Thỉnh thoảng có những đợt bội nhiễm gây loét, chảy máu.
Các biến chứng thường gặp của sùi mào gà là nhiễm khuẩn, chảy máu, cản trở giao hợp hoặc cản trở thai sổ trong khi sinh. Biến chứng lâu dài của sùi mào gà là ung thư âm hộ, âm đạo, cổ tử cung.
Lời khuyên của thầy thuốc

Khi thấy biểu hiện khác lạ trên da, người bệnh cần đến khám và điều trị tại các cơ sở y tế chuyên khoa da liễu hoặc truyền nhiễm, không được tự mua thuốc điều trị để tránh các biến chứng. Đối với các bệnh ngoài da do nhiễm virut gặp rất nhiều khó khăn trong điều trị. Có rất ít sự lựa chọn thuốc kháng virut để điều trị, bệnh nhân thường được duy trì cân bằng dịch để tăng cường sức đề kháng cho cơ thể và bôi thuốc làm dịu da tại chỗ, giảm các triệu chứng của bệnh. Vì vậy, phòng bệnh vẫn là vấn đề phải lưu ý hàng đầu. Thực hiện các biện pháp vệ sinh thân thể và môi trường sống sạch sẽ. Rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. Người lành, nhất là trẻ em nên hạn chế tiếp xúc với bệnh nhân nếu không thực sự cần thiết. Không được chọc vỡ các mụn nước, bọng nước trên da bệnh nhân vì rất dễ lây lan. Người bệnh cần tuyệt đối tuân thủ các chỉ định của thầy thuốc để không lây lan sang người khác.

Thêm hy vọng cho bệnh nhân ung thư bạch cầu

Đây là một trong những căn bệnh thực sự chưa bao giờ bị đánh bại. Trong 90% các trường hợp thì chưa bao giờ chữa được bệnh ung thư bạch cầu dạng tủy mạn tính. Và nguyên nhân là các tế bào ung thư gốc vẫn tồn tại trong cơ thể. Với nguy cơ tái phát rất lớn, người bệnh phải dùng thuốc liên tục với các tác dụng phụ như gặp vấn đề về tiêu hóa hay phù mặt...
Thêm hy vọng cho bệnh nhân ung thư bạch cầu
Tuy nhiên, phân tử pioglitazone đã được sử dụng trong điều trị bệnh đái tháo đường khi được kết hợp với các cách điều trị ung thư bạch cầu thông thường đã cho phép loại bỏ căn bệnh ung thư này ở người bệnh trong vòng 5 năm điều trị. Kết quả này vừa được các nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu các bệnh mới và các liệu pháp sáng tạo Fontenay-aux-Roses công bố.
Phương pháp điều trị này cũng đã được tiến hành áp dụng để nghiên cứu các dạng ung thư bạch cầu khác và các bệnh ung thư khác.

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2015

4 loại bệnh để lâu sẽ dẫn đến ung thư

Có 4 loại bệnh tưởng không nguy hiểm nhưng lại có khả năng dẫn đến ung thư, gồm:
Bệnh trĩ
Bệnh trĩ là sự co giãn quá mức ở các đám rối tĩnh mạch xung quanh khu vực hậu môn khiến máu ứ đọng làm cho tĩnh mạch bị giãn và phình ra một cách bất thường Việt Nam hiện nay có khoảng 30 - 50% dân số bị mắc bệnh trĩ. Trong số đó, khoảng 10 - 30% cần điều trị bệnh trĩ, 20% cần phải mổ để giải quyết các hậu quả do bệnh trĩ gây ra.
Nhiều người nghĩ, trĩ là căn bệnh không nguy hiểm, chỉ gây đau đớn và bất tiện trong sinh hoạt của người bệnh. Thực tế thì hoàn toàn không phải như vậy. Trĩ không chỉ gây đau đớn và bất tiện trong sinh hoạt mà nó cũng có thể gây nên những biến chứng nặng nề như ung thư.
Theo TS Nguyễn Mạnh Nhâm - Chủ tịch Hội Hậu môn, trực tràng, Việt Nam, bệnh trĩ thường gây đau đớn cho người bệnh khi đi đại tiện. Bệnh trĩ cũng gây chảy máu mỗi khi đi đại tiện. Nếu hiện tượng chảy máu này kéo dài sẽ gây nên chứng thiếu máu ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh.Khi búi trĩ sa ra ngoài hậu môn, nó có thể gây ngứa, trầy xước tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào hậu môn gây viêm nhiễm hậu môn. Khi bệnh trĩ kéo dài kết hợp với những viêm nhiễm vùng hậu môn có thể kích thích các tế bào ung thư phát triển ở vùng bị tổn thương.
TS Mạnh Quân khuyến cáo, với những người bị bệnh trĩ kéo dài nếu thấy kèm theo hiện tượng chảy máu thâm đen và có mùi hôi thì phải nghĩ đến khả năng bệnh đã chuyển sang ung thư trực tràng. Bởi đó là dấu hiệu điển hình của người bị mắc bệnh ung thư trực tràng.
Bệnh sùi mào gà
Bệnh sùi mào gà có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung và ung thư dương vật
Sùi mào gà là một trong những bệnh lây truyền qua đường tình dục. Biểu hiện là những nụ sùi nhỏ giống như mào gà, hoa lơ ở âm hộ, âm đạo, cổ tử cung, miệng, họng hoặc dương vật, đôi khi xung quanh lỗ hậu môn. Đó là những u lành tính của tế bào do virus HPV, lây truyền chủ yếu qua giao hợp. Thời gian ủ bệnh từ vài tuần đến vài tháng.
Sùi mào gà nguy hiểm vì làm tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung - một loại ung thư gây ra bởi virus HPV (rất nhiều nghiên cứu cho thấy tình trạng nhiễm HPV trong 99,8% trường hợp ung thư cổ tử cung). Cần phải nhấn mạnh rằng nhiễm HPV xảy ra trước khi xuất hiện các tổn thương loạn sản và sau đó là các tổn thương ung thư cổ tử cung.
Nguy cơ của sùi mào gà là ung thư cổ tử cung nên những phụ nữ có sùi mào gà phải làm xét nghiệm soi tế bào âm đạo hằng năm để phát hiện sớm những thay đổi có thể dẫn đến bệnh này. Phụ nữ đã có quan hệ tình dục cần làm xét nghiệm này hai năm một lần. Đây là cách duy nhất để loại trừ sớm ung thư cổ tử cung ở người có sùi mào gà.
Ở nam giới, bệnh cũng có thể gây ung thư dương vật nếu không được điều trị.
Viêm gan B
Theo các chuyên gia, bệnh viêm gan B là nguyên nhân chính gây ra ung thư gan. Trong số những bệnh nhân được chẩn đoán ung thư gan thì có đến khoảng 85% người bệnh có tiền sử viêm gan B chuyển sang ung thư gan. Bệnh nhân khi mắc bệnh ung thư gan thì việc điều trị để hồi phục lại các tế bào gan đã bị tổn thương là hoàn toàn không thể, việc điều trị chỉ mang tính chất khống chế diễn biến xấu của bệnh và hạn chế những biến chứng mà bệnh có thể gây ra cho người bệnh.
Viêm gan siêu vi B và C có thể coi là một trong những nguy cơ chính dẫn đến bệnh ung thư gan. Hơn 70% số người mắc bệnh ung thư gan có tiền sử nhiễm virus viêm gan B và C. Biến chứng từ viêm gan sang ung thư gan thường rất chậm, khoảng 20 năm, khiến nhiều người hoàn toàn không chú ý. Đối với những bệnh nhân mắc bệnh viêm gan B mãn tính thì đây chính là những người có nguy cơ dẫn đến ung thư gan cao hơn cả. Nguyên nhân là do người bệnh mắc bệnh viêm gan B nhưng không biết mình mắc bệnh hoặc nhiều bệnh nhân chủ quan không tiến hành điều trị hoặc điều trị bệnh không đúng phương pháp, không hiệu quả khiến bệnh nhanh chóng dẫn đến biến chứng.
Như đã nói ở trên thì bệnh viêm gan B chính là nguyên nhân gây ra bệnh ung thư gan, do đó, mỗi người bệnh cần được tiêm phòng vaccine viêm gan B, nếu như cơ thể có chứa virus viêm gan B và virus đang hoạt động thì người bệnh nên tiến hành điều trị bệnh triệt để. Nếu như người bệnh khi mắc bệnh viêm gan B thì người bệnh cần được tiến hành điều trị bệnh sớm, điều trị viêm gan B một cách triệt để nhất theo đúng y lệnh điều trị của các bác sĩ chuyên khoa để việc điều trị đạt hiệu quả nhất.
Bên cạnh việc phòng ngừa những bệnh gan có thể xảy ra cho người bệnh thì người bệnh cũng nên có chế độ ăn uống lành mạnh, việc ăn uống không cân đối hoặc không hợp vệ sinh cũng có thể là nguyên nhân gây ra bệnh ung thư gan. Kiêng rượu và thuốc lá cũng là cách người bệnh có thể phòng tránh được bệnh và làm chậm quá trình mắc bệnh ung thư gan.
Sẹo lâu ngày không khỏi
Theo các chuyên gia về da liễu, những tổn thương về da bỏng, sẹo và loét trong thời gian dài mà lại lâu lành có nguy cơ cao trong việc phát triển thành ung thư da. Chúng sẽ phát triển thành ung thư tế bào biểu bì có vảy do viêm mãn tính hoặc thay đổi thành tế bào ác tính. Loại ung thư này thường hay dẫn đến di căn hạch và có thể gây tử vong cao nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị thích hợp.
Có 3 loại ung thư da tế bào vảy:
- Ung thư da tế bào vảy có thể phát sinh từ actinic keratoses (dày sừng do nắng) trông như những miếng vảy dày dính trên da. Ung thư da dạng này mềm và có thể cử động tự do, nằm trên phần da đầu hói, trán, tai và mu bàn tay.
- Loại thứ hai của ung thư da tế bào vảy xuất hiện ở các vùng da bị tổn thương do ánh nắng mặt trời. Chúng là những khối u rắn, cử động được, mọc u lên, nhìn rõ mép và ít có vảy bề mặt. Những khối u tế bào vảy dạng này ít khi di căn nhưng có thể xâm lấn cục bộ.
- Loại thứ ba của ung thư da tế bào vảy phát sinh từ vùng da bình thường hoặc môi. Chúng rất dễ xâm lấn và có thể di căn đến các hạch bạch huyết trong khu vực.
Ung thư da tế bào vảy thường xuất hiện trên nền tổn thương ung thư và vết sẹo lâu ngày. Ngoài ra còn có thể xuất hiện ở những vùng da bị tổn thương bởi tia UV như vùng da đầu không có tóc, vùng mặt, cổ, cánh tay, mu bàn tay hay mu bàn chân. Khối u thường sùi, đau, di căn hạch khu vực hoặc di căn theo đường máu vào phổi, xương, gan và não.
Sinh thiết tế bào tổn thương là phương pháp chẩn đoán xác định ung thư da tế bào vảy. Nếu kết quả sinh thiết lần đầu dương tính có thể sinh thiết lại nhiều mảnh tế bào, sâu và to hơn. Thực hiện sinh thiết có thể chẩn đoán mô bệnh học, phân loại u và xếp độ mô học ung thư. Tuy nhiên với những hạch to cần cân nhắc có nên chọc hút tế bào hay không vì có thể làm vỡ hạch gây lây lan tế bào ung thư ra các vùng xung quanh.