Văn phòng Diện Chẩn Sống Khỏe_ Khu nhà 102 Ngõ 95 Chùa Bộc-Đống Đa-Hà Nội _ ĐT : 0906143408

Hướng dẫn lý thuyết và thực hành cơ bản cho những quí vị thực sự yêu thích Diện Chẩn . Hãy gọi cho chúng tôi để biết lịch .

Tư vấn sức khỏe , chẩn bệnh đưa ra phác đồ miễn phí.

Hiển thị các bài đăng có nhãn loét dạ dày tá tràng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn loét dạ dày tá tràng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2015

Cách mới điều trị ung thư dạ dày sớm

Cấu tạo thành dạ dày chia thành 4 lớp: từ trong lòng ra ngoài bao gồm lớp niêm mạc, lớp dưới niêm mạc và lớp thanh mạc
Cách mới điều trị ung thư dạ dày sớm
Ung thư dạ dày được gọi là sớm khi tổn thương ung thư chỉ nằm ở lớp niêm mạc hoặc xuống lớp dưới niêm mạc nhưng chưa quá 500um .
Ung thư dạ dày nếu phát hiện ở giai đoạn muộn thì tỉ lệ sống sau 5 năm chỉ còn dưới 10% (theo Orditura M và cộng sự), trong khi đó tỉ lệ sống sau 5 năm đối ung thư phát hiện giai đoạn sớm là 97,1-100%, và 97,1 %-100% sau 5 năm bệnh nhân vẫn còn sống khỏe mạnh mà không phải điều trị hóa chất hoặc các phương pháp gì khác sau cắt tách dưới niêm mạc dạ dày quanội soi (Endoscopic Submucosal Dissection- ESD). Trong khi đó ung thư dạ dày được phát hiện giai đoạn muộn chủ yếu là phẫu thuật cắt dạ dày và sau đó phải điều trị hóa chất toàn thân, làm chất lượng cuộc sống người bệnh bị giảm đáng kể.
Theo nghiên cứu của Choi IJ. và cộng sự năm 2014 tỉ lệ sống sau 5 năm của ung thư dạ dày sớm là tương đương nhau khi dùng phương pháp phẫu thuật cắt bỏ dạ dày so với phương pháp cắt tách dưới niêm mạc dạ dày qua nội soi. Theo các nghiên cứu của Abe S và Okada K ngay cả khi ung thư dạ dày típ kém biệt hóa thì tỉ lệ sống sau 5 năm cũng đạt 93-96%.
Cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi (Endoscopic Submucosal Dissection- ESD)
Cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi là một phương pháp điều trị ung thư dạ dày sớm và tổn thương tiền ung thư là kỹ thuật được tiến hành hành qua nội soi thực quản dạ dày với thuốc tiền mê hoặc gây mê (giúp người bệnh không bị khó chịu và không đau). Toàn bộ vùng tổn thương được tách ra khỏi các lớp cơ và thanh mạc dạ dày và được cắt ra. Toàn bộ vùng tổn thương sau đó sẽ được làm xét nghiệm giải phẫu bệnh để đánh giá lại tổn thương ung thư đã tới lớp nào và thực sự ung thư có còn ở giai đoạn sớm hay không. Phương pháp này được tiến hành bắt đầu từ những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ trước, tới năm 2003 đã chính thức được hiệp hội ung thư dạ dày Nhật Bản công nhận.
Hiện nay, một số chuyên gia hàng đầu của Nhật Bản cho rằng nếu trên hình ảnh nội soi dạ dày tổn thương ung thư sớm hoặc tiền ung thư đã điển hình thì không cần sinh thiết trước khi tiến hành cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi mà tiến hành cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi sau đó lấy cả vùng tổn thương tiến hành xét nghiệm trên mô bệnh học.
Bệnh nhân nội soi tiêu hóa tại BV Bạch Mai.
Bệnh nhân nội soi tiêu hóa tại BV Bạch Mai.
Tại Việt Nam kỹ thuật này còn là mới. Khoa Tiêu Hóa, BV Bạch Mai với sự giúp đỡ của Nhật Bản, đặc biệt là trường đại học Nagoya mà đứng đầu là giao sư Goto Hidemi đã được trang bị một trung tâm nội soi Tiêu Hóa hoàn chỉnh theo tiêu chuẩn của Nhật Bản. Đồng thời thường xuyên có đội ngũ giáo sư bác sĩ và y tá từ Nhật Bản sang trực tiếp làm việc hướng dẫn và chuyển giao kỹ thuật. Cho tới nay kỹ thuật này đã được tiến hành thường quy mang lại hiệu quả điều trị cao cho người bệnh.
Cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi là một kỹ thuật cao, nhưng điều khó khăn nhất không tiến hành thường quy được không phải vì là kỹ thuật khó mà là do ở Việt Nam chúng ta phần lớn (gần như 100%) ung thư dạ dày được phát hiện ở giai đoạn muộn, nên không thể áp dụng được pháp này điều trị cho người bệnh. Vì vậy gần đây khi tập trung vào phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm chúng tôi đã phát hiện được những ung thư ở giai đoạn sớm cũng như tổn thương tiền ung thư và có thể dễ dàng áp dụng phương pháp cắt tách niêm mạc để điều trị.
Cắt tách niêm mạc được tiến hành như thế nào?
Đầu tiên người ta tiến hành đánh dấu vùng tổn thương. Tiếp theo dùng dung dịch có chất chỉ điểm màu (indigocarmin) tiêm vào lớp dưới niêm mạc mục đích tách tổn thương ung thư đang nằm trong lớp niêm mạc ra khỏi lớp cơ giúp cho khi cắt không làm tổn thương lớp cơ. Bước tiếp theo là dùng dao điện chuyên biệt cắt khoanh toàn bộ vùng tổn thương tại lớp niêm mạc. Như vậy toàn bộ dạ dày vẫn được bảo tồn, tại vị trí cắt vẫn còn lại lớp cơ và lớp thanh mạc. Sau đó bệnh nhân được dùng thuốc giảm tiết axit PPI (proton pump inhibitors) liều cao, nếu không có biến chứng gì sau 2 ngày bệnh nhân ăn trở lại và ra viện sau đó. Thường tổn thương loét sau cắt tách niêm mạc sẽ liền sẹo hoàn toàn sau 2 tháng.
Các biến chứng của cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi
- Các biến chứng tùy thuộc vào kích thước của tổn thương cần cắt, tình trạng đông máu của người bệnh.
- Có thể gây thủng dạ dày chiếm khoảng 1,2- 5,2%. Chảy máu muộn sau cắt 0- 15,6%.

Như vậy, cắt tách dưới niêm mạc qua nội soi là một phương pháp điều trị rất hiệu quả có thể nói là khỏi hẳn đối với ung thư dạ dày ở giai đoạn sớm mà không cần điều trị, giúp bệnh nhân bảo tồn toàn bộ dạ dày tránh được phẫu thuật cắt dạ dày. Đây là phương pháp điều trị an toàn với thời gian nằm viện ngắn, hầu như không ảnh hưởng tới sức khỏe người bệnh.


Thứ Năm, 17 tháng 9, 2015

Bệnh trào ngược dạ dày thực quản

Trào ngược dạ dày thực quản là một bệnh thường gặp ở cả người lớn và trẻ em. Bệnh không chỉ gây khó chịu cho bệnh nhân mà còn gây ra những biến chứng nặng như loét, hẹp, chảy máu thực quản, thậm chí dẫn tới ung thư. Việc chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời sẽ cải thiện cuộc sống cho người bệnh cũng như giảm thiểu được các biến chứng nguy hiểm.
Bệnh trào ngược dạ dày-thực quản là tình trạng trào ngược từng lúc hay thường xuyên các chất từ dạ dày lên thực quản. Khi hiện tượng trào ngược gây ra triệu chứng và/hoặc tổn thương thực thể được gọi là bệnh trào ngược dạ dày-thực quản (Gastroesophageal Reflux Disease – GERD)
Nguyên nhân gây bệnh vẫn còn chưa rõ, tuy vậy người ta nói nhiều tới vai trò của cơ thắt thực quản dưới. Các tác nhân làm yếu hoặc gây giãn cơ góp phần gây ra bệnh trào ngược dạ dày-thực quản như: uống rượu, hút thuốc; thức ăn chứa nhiều gia vị, mỡ, cà phê, sô-cô-la; các tình trạng bệnh lý như béo phì, đái tháo đường, phụ nữ có thai, thoát vị hoành; dùng các thuốc chẹn kênh canxi, theophyllin…
Bệnh trào ngược dạ dày thực quản
Bệnh có biểu hiện gì?
Ợ nóng: là triệu chứng thường gặp nhất, đó là cảm giác gây ra do các thành phần của dịch dạ dày trào ngược lên thực quản. Bệnh nhân thấy nóng rát từ vùng thượng vị, lan ngược lên phía sau xương ức có khi lên tận cổ họng. Ợ nóng thường tăng lên sau khi ăn, khi nằm xuống hoặc ưỡn người về phía trước.
Ợ chua: là hiện tượng do các thành phần acid của dịch dày và/hoặc thực quản trào ngược lại ra vùng hầu họng.
Nuốt khó: xuất hiện ở 1/3 số bệnh nhân trào ngược, đó là cảm giác thức ăn hay nước uống dừng lại phía sau xương ức ngay sau khi nuốt. Nuốt khó, hay nghẹn là triệu chứng cần cảnh giác với ung thư thực quản.
Ngoài các triệu chứng trên có thể gặp các triệu chứng không điển hình hoặc do biến chứng như nuốt đau, nôn, ợ hơi; khàn tiếng, đau họng, ho; tăng tiết nước bọt; hen phế quản… Cần lưu ý là không có sự song hành giữa triệu chứng lâm sàng và tổn thương thực thể, ợ nóng nhiều không có nghĩa là tổn thương thực quản nặng, ngược lại có trường hợp bệnh diễn biến âm thầm cho tới khi xuất hiện các biến chứng nguy hiểm như loét, chảy máu, hẹp hay ung thư hóa.
Chẩn đoán bệnh dựa vào bệnh cảnh lâm sàng và các thăm dò xét nghiệm. Khi chưa có biến chứng, chẩn đoán xác định dựa vào theo dõi pH thực quản 24 giờ. Căn cứ vào từng bệnh cảnh, thầy thuốc có thể chỉ định chụp X-quang, nội soi-dạ dày thực quản. Nội soi rất hữu ích cho việc chẩn đoán các biến chứng của bệnh lý trào ngược, kết hợp nội soi và sinh thiết giúp xác định những biến đổi cấu trúc của thực quản, nội soi còn giúp phát hiện các nguyên nhân thực thể giúp thầy thuốc quyết định phương thức điều trị phù hợp.
Điều trị và dự phòng như thế nào?
Các mục tiêu của việc điều trị một bệnh nhân bị trào ngược dạ dày – thực quản là: làm mất triệu chứng của bệnh nhân; chữa lành tình trạng viêm thực quản nếu có; ngăn ngừa chít hẹp, sước trợt niêm mạc và loét tái phát; duy trì hiệu quả điều trị. Do đó cho đến nay có rất nhiều thuốc được đưa vào sử dụng để điều trị
Nhóm thuốc điều hoà vận động
Metoclopramid: tác dụng trung ương vào vùng lẩy cò và có tác dụng lên các lớp cơ ống tiêu hoá. Nó làm gia tăng vận động, thúc đẩy mở môn vị. Dẫn đến làm vơi dạ dày từ đó làm giảm trào ngược dạ dày thực quản. Tác dụng phụ: gây buồn ngủ và tăng trương lực ngoại tháp, dùng trước các bữa ăn.
Ở trẻ em có thể dùng đường hậu môn bằng các viên đạn.
Domperidon: đây là thuốc kháng dopaminergic ngoại biên, có tác dụng làm tăng áp lực cơ vòng đoạn dưới thực quản do đó làm tăng sự vơi dạ dày dẫn đến làm giảm trào ngược. Thuốc uống trước khi ăn.
Đối với trẻ em: nên dùng loại nhũ dịch.
Thuốc chống chỉ định với chảy máu dạ dày ruột, tắc ruột, nguy cơ thủng ở ống tiêu hoá.
Sulpirid: có tác dụng làm gia tăng trương lực đoạn dưới cơ vòng thực quản, nó cũng có tác dụng vào hệ thần kinh trung ương như các thuốc ngủ do đó có tác dụng phụ là buồn ngủ, gây hội chứng ngoại tháp, chảy sữa, bất lực…
Metopimazin: đây là thuốc chống nôn kháng tiết dopamin có tác dụng chọn lọc trên khu vực lẩy cò hoá học của não thất IV. Thuốc có tác dụng làm thay đổi vận động ống tiêu hoá nhưng không làm tăng sự vơi dạ dày do đó nó không làm cản trở sự hấp thu tiêu hoá cao của các thuốc phối hợp. Dùng đường uống, tiêm bắp hoặc đặt hậu môn. Uống trước khi ăn. Có thể dùng chp trẻ sơ sinh.
Ngoài ra trong một số trường hợp đặc biệt, tuỳ theo tình trạng bệnh cảnh lâm sàng mà có thể dùng một số thuốc khác như alizaprid, anzemet, zelmac.
Nhóm thuốc làm giảm tác động có hại của trào ngược
Các thuốc tạo màng ngăn dạ dày - thực quản :
Alginat: acid Alginic khi tiếp xúc với HCl sẽ tạo thành một lớp bọt nổi lên trên dịch vị. Trong trường hợp trào ngược nhờ lớp gel này sẽ bảo vệ cho niêm mạc thực quản khỏi bị tác động của acid dạ dày. Uống sau mỗi bữa ăn và trước lúc đi ngủ.
Dimeticol là một chất bảo vệ niêm mạc tương tự như trên
Nhóm thuốc có tác dụng bảo vệ niêm mạc: Sucralfat gắn với protein tạo hàng rào bảo vệ niêm mạc dạ dày thực quản chống lại các tác nhân từ dạ dày. Thường chỉ định sucralfat trong các trường hợp bệnh trào ngược vừa đến nặng. Sucralfat dạng viên nén 1g, uống trước bữa ăn và lúc đi ngủ, tránh dùng antacid hoặc kháng histamin H2 trước hoặc sau khi uống sucralfat 30 phút.
Ngoài ra còn sử dụng các thuốc kháng acid (maalox, phosphalugel..), thuốc kháng thụ thể H(như cimetidin, ranitidin) hoặc thuốc ức chế bơm proton (như omeprazol, lansoprazol) tuỳ theo tình trạng lâm sàng của bệnh nhân.
Hiện nay, việc điều trị với thuốc ức chế bơm proton đạt thành công nhất, trong đó có khoảng nửa số bệnh nhân có thể duy trì sự thành công chỉ cần điều trị bằng thuốc ức chế bơm proton cách ngày hoặc dùng một loại kháng thụ thể H2.
Đặc biệt, bên cạnh việc dùng thuốc thì việc duy trì chế độ ăn uống sinh hoạt hợp lý sẽ góp phần quan trọng trong việc điều trị bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản, mỗi bữa không nên ăn quá nhiều, nên ăn làm nhiều bữa, 4 - 5 bữa mỗi ngày; không nên ăn chất lỏng, nên ăn đặc, khô; sau khi ăn không nên nằm nhiều, ngồi ở tư thế cúi ra phía trước... nằm ngủ ở tư thế đầu dốc cao; Bỏ hẳn một số thức ăn làm giảm trương lực cơ vòng: socola, thuốc lá, cà phê, chất mỡ, nước khoáng có ga; Ăn chậm, nhai nát kỹ, tránh nuốt hơi vào dạ dày; không được dùng một số thuốc làm giảm trương lực cơ vòng dưới thực quản như estrogen, progesteron, anticholinergic, barbituric, ức chế calci, diazepam, theophylin. Chỉ phẫu thuật khi điều trị nội khoa không khỏi và khi có biến chứng nặng nề
Lời khuyên của thầy thuốc

Sai lầm hay mắc phải của người bệnh là tự ý mua thuốc về dùng, không theo chỉ định của bác sĩ. Cần phải hiểu rằng với mỗi người bệnh có tình trạng bệnh lý cụ thể khác nhau, người bệnh cần được thầy thuốc chuyên khoa khám và chỉ định điều trị thích hợp thì bệnh mới mau lành và hạn chế được các biến chứng nguy hiểm của bệnh và do dùng thuốc


Vi khuẩn Helicobacter Pylori và bệnh dạ dày

Bệnh dạ dày xuất hiện từ rất lâu, nhưng trước đây nó được coi là căn bệnh khó chữa. Việc tìm ra vi khuẩn Helicobacter Pylori đã giúp các bác sĩ có hướng đi đúng trong việc điều trị dứt điểm các chứng bệnh khó trị này.
Một số nét về HP
Từ hơn 100 năm trước, người ta đã ghi nhận có sự sống của một loại vi khuẩn ở dạ dày chó. Tiếp theo, nhiều nhà khoa học cũng tìm thấy một loại xoắn khuẩn hiện diện trong lớp nhầy của dạ dày nhưng lại thất bại trong việc nuôi cấy vi khuẩn đó. Mãi đến năm 1982, Marshan và Warren chính thức xác minh sự có mặt của vi khuẩn này ở niêm mạc vùng hang vị dạ dày và đặt tên là Campylobacter Pylori. Sau này đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về loại vi khuẩn này và vai trò của nó đối với một số bệnh lý của dạ dày. Căn cứ vào đặc điểm của Campylobacter Pylori các nhà khoa học đã đổi tên là Helicobacter Pylori.
Vi khuẩn Helicobacter Pylori và bệnh dạ dày
Vi khuẩn HP gây bệnh dạ dày .
Dưới kính hiển vi điện tử, người ta đã có thể tìm ra cấu trúc sinh học của HP là xoắn khuẩn gram âm, thuộc loại hiếu khí, có dạng chữ S, dấu phẩy hoặc hình cung, một đầu có túm roi, di động.
HP đòi hỏi oxy ở mức độ rất thấp, hơn nữa nó sản xuất ra nhiều men urease. Men urease sẽ chuyển ure thành amoniac làm cho môi trường sinh sống của HP trở thành kiềm, vì vậy HP thích nghi với môi trường axit của dạ dày người lành. Hoạt động này của HP không chỉ giúp cho nó có thể sống trong môi trường axit của dạ dày mà còn gây tác hại xấu đến dạ dày. Việc tiết ra men urease để biến NH4 thành NH3 làm ngăn cản quá trình tổng hợp chất nhầy của tế bào, do đó làm mất sự toàn vẹn của lớp bảo vệ dạ dày, tạo điều kiện thuận lợi cho các yếu tố có hại như acid, pepsin trong dạ dày khiến niêm mạc dạ dày bị tổn thương và gây loét.
Ngoài ra, bản thân HP còn sản xuất ra các men catalase, protease, ngoại độc tố, các chất này gây bệnh cho niêm mạc dạ dày.
Qua các nghiên cứu, các nhà khoa học đã nhận thấy rằng tần suất nhiễm HP thay đổi phụ thuộc tuổi, tình trạng xã hội kinh tế và chủng tộc. Ước tính có hơn 50% dân số bị nhiễm HP, chủ yếu ở các nước đang phát triển. Tần số nhiễm rất cao ở lứa tuổi lớn hơn 20 và trẻ em bị nhiễm ở độ tuổi từ 2-8. Việt Nam cũng là nước có tỉ lệ nhiễm HP cao với khoảng hơn 70% người lớn. Đường lây nhiễm chủ yếu là đường ăn uống hoặc trực tiếp (miệng-miệng) qua nước bọt.
Diệt vi khuẩn HP thế nào?
Tùy vào tình trạng bệnh nhân mà có những phương pháp điều trị khác nhau như thử nghiệm urease thông qua nội soi dạ dày, test mô học hoặc các test không cần thông qua nội soi dạ dày như test huyết thanh, test urea trong hơi thở… Và cũng tùy từng tình hình nhiễm bệnh mà người ta sẽ có phác đồ điều trị khác nhau.
Hiện nay các nhà nghiên cứu đã đồng ý quan điểm rằng, việc điều trị HP phải có sự kết hợp giữa các nhóm thuốc với nhau và phải theo những nấc thang điều trị tăng dần để tránh việc kháng thuốc của HP.
Kháng sinh: hiện nay các kháng sinh hàng đầu và tỏ ra hữu hiệu nhất đó là các thuốc amoxicillin, clarithromycin, metronidazole.
Thuốc ức chế bơm proton (PPI): là thuốc phối hợp hàng đầu trong điều trị HP, ngoài ra còn có tác dụng làm giảm các triệu chứng khó chịu của bệnh nhân do vết loét gây nên, đồng thời cũng làm nhanh thời gian liền ổ loét. Các thuốc này bao gồm có như omeprazole, lansoprazol… Tùy vào tình trạng của từng người bệnh mà sẽ có sự thay đổi liều dùng khác nhau. Một đặc điểm cần lưu ý đối với nhóm thuốc này đó là uống cách xa bữa ăn.
Muối bismuth: bismuth là kim loại nặng, trước đây người ta đã dùng muối của bismuth để điều trị bệnh loét dạ dày tá tràng có hiệu quả, nhưng do tác dụng phụ không mong muốn nên đã tạm dừng. Ngày nay với tác dụng diệt HP của bismuth, người ta dùng bismuth dưới dạng các chất hữu cơ colloidal bismuth (CBS) hoặc tripotasium dicitrato bismuth (TDB) và chỉ dùng liều thấp ít gây tác dụng phụ

Dùng thuốc điều trị bệnh nhằm mục đích vừa chữa khỏi bệnh vừa phải làm sao tiêu diệt triệt để tận gốc không tái lại đối với loại vi khuẩn HP. Sử dụng các phác đồ điều trị kết hợp giữa các nhóm thuốc với nhau là một hướng đi đúng nhưng cần đòi hỏi sự hiểu biết, linh hoạt của người bác sĩ đối với từng bệnh nhân, với từng giai đoạn khác nhau để tránh việc kháng thuốc của loại vi khuẩn này. Đối với người bệnh, việc giữ vệ sinh trong sinh hoạt ăn uống vui chơi hàng ngày cũng sẽ góp phần làm giảm tỉ lệ mắc loại vi khuẩn này. Khi đã có những vấn đề về tiêu hóa hãy đi khám ngay ở nhưng cơ sở y tế đáng tin cậy. Ngoài ra, việc điều trị tận gốc tiêu diệt HP cũng đòi hỏi sự kiên trì và thời gian, người bệnh cần tuân thủ nghiêm túc phác đồ điều trị.


Thứ Tư, 9 tháng 9, 2015

Bạn biết gì về bệnh đau dạ dày?

Hiện nay đau dạ dày là bệnh khá phổ biến trong nhân dân và đang có chiều hướng gia tăng. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng người lớn mắc bệnh nhiều hơn trẻ em. Tùy theo các vị trí của viêm và loét mà có các tên gọi là viêm dạ dày, viêm hang vị, viêm tâm vị, viêm bờ cong nhỏ hoặc loét bờ cong nhỏ, loét hang vị, loét tiền môn vị, viêm tá tràng, loét tá tràng, viêm loét cả dạ dày - tá tràng, ung thư dạ dày.
Đặc điểm giải phẫu sinh lý của dạ dày
Về giải phẫu, dạ dày là túi đựng thức ăn nối thực quản với tá tràng. Dung lượng dạ dày có thể chứa được 1-1,5 lít, gồm 2 phần: phần đứng là thân dạ dày, phần ngang là hang vị. Cấu tạo thành dạ dày gồm 4 lớp, từ ngoài vào trong gồm: thanh mạc; lớp cơ: gồm 3 lớp nhỏ (cơ dọc, cơ vòng và cơ chéo); hạ niêm mạc; niêm mạc: phân cách với lớp hạ niêm mạc bởi lớp cơ trơn.
Bạn biết gì về bệnh đau dạ dày?
Cấu tạo dạ dày
Mạch máu của dạ dày: dạ dày được nuôi dưỡng bởi động mạch từ thân tạng tới tạo nên hai vòng cung: vòng cung nhỏ dọc theo bờ cong nhỏ; vòng cung lớn dọc theo bờ cong lớn. Thần kinh chi phối dạ dày: là đám rối Meissner và Auerbach. Thần kinh phó giao cảm cholinergic (là dây thần kinh số X) và thần kinh giao cảm adrenergic (thần kinh tạng).
Chức năng sinh lý dạ dày
Chức năng vận động: trương lực dạ dày, áp lực trong lòng dạ dày khoảng 8-10 cm H2O, có áp lực là nhờ sự co thường xuyên của lớp cơ dạ dày. Khi dạ dày đầy, trương lực giảm đi chút ít, khi dạ dày vơi trương lực tăng lên, tăng lên cao nhất khi dạ dày rỗng.
Nhu động của dạ dày: khi thức ăn vào dạ dày thì 5-10 phút sau dạ dày mới có nhu động, nhu động bắt đầu từ phần giữa của thân dạ dày, càng đến gần tâm vị nhu động càng mạnh và sâu. Cứ 10-15 giây có 1 sóng nhu động. Kết quả co bóp của dạ dày là nhào trộn thức ăn với dịch vị, nghiền nhỏ thức ăn và tống xuống ruột.
Chức năng bài tiết: mỗi ngày dạ dày bài tiết 1-1,5 lít dịch vị, protein của huyết tương (đặc biệt là albumin, globulin miễn dịch), các enzym pepsinozen và pepsin, glycoprotein, yếu tố nội sinh (glycoprotein chứa ít glucid) và axid.
Chức năng tiêu hóa: HCl có tác dụng hoạt hoá các men tiêu hoá, điều chỉnh đóng mở môn vị và kích thích bài tiết dịch tụy. Chất nhầy có nhiệm vụ bảo vệ niêm mạc khỏi sự tấn công của chính dịch vị. Pepsinogen với sự có mặt của HCl sẽ phân chia protein thành các polypeptid và làm đông sữa. Yếu tố nội sinh có tác dụng làm hấp thu vitamin B12. Dạ dày cũng sản xuất secretin, một nội tiết tố kích thích bài tiết dịch tụy.
Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân gây đau dạ dày trong đó thuyết về thần kinh thuyết phục hơn cả nên đã tồn tại trong nhiều thập niên. Song hành với thuyết thần kinh, là giả thuyết về vi khuẩn tồn tại ở niêm mạc và dưới niêm mạc dạ dày gây bệnh. Cho đến năm 1983, hai nhà khoa học người Australia (Warren và Marshall) mới thành công trong việc nuôi cấy, phân lập để xác định được loại vi khuẩn gây viêm loét dạ dày - tá tràng và công bố cho toàn thế giới biết kẻ thù nguy hiểm gây bệnh lý viêm loét dạ dày - tá tràng là loại vi khuẩn Helicobacter pylori (viết tắt là HP).
Triệu chứng của bệnh dạ dày
Triệu chứng cơ năng: Đau bụng vùng thượng vị: đau có chu kỳ (loét dạ dày, loét tá tràng), đau không chu kỳ (đau do viêm dạ dày-tá tràng hoặc ung thư dạ dày). Đau có lan xuyên (loét dạ dày lan lên trên và sang trái), loét hành tá tràng (lan ra sau lưng và sang phải). Đau liên quan đến bữa ăn: loét dạ dày đau khi no, loét hành tá tràng đau khi đói, ăn vào hết đau. Kém ăn là một triệu chứng không đặc hiệu (ăn mất ngon, ăn ít hơn), cũng có thể do nguyên nhân khác như bệnh gan, bệnh thận... Ợ là biểu hiện của rối loạn vận động dạ dày, do lỗ tâm vị không đóng kín. Thức ăn lưu lại trong dạ dày quá lâu nên sinh hơi. Thức ăn và hơi có thể lên tận trên họng mà người có bệnh cảm thấy vị chua. Ợ có thể gặp ở các bệnh dạ dày: viêm loét dạ dày tá tràng; hẹp môn vị; rối loạn chức năng cơ vòng tâm vị. Ợ có thể gặp ở các bệnh ngoài dạ dày như suy gan do bất cứ nguyên nhân gì. Hội chứng bán tắc ruột. Nôn và buồn nôn: các bệnh của dạ dày gây nôn và buồn nôn gồm viêm dạ dày; đợt tiến triển của loét dạ dày-tá tràng; ung thư dạ dày; hẹp môn vị do bất cứ nguyên nhân gì; chảy máu dạ dày; các bệnh ngoài dạ dày như viêm não, u não… Chảy máu dạ dày: có thể là một triệu chứng, có thể là một biến chứng của viêm dạ dày cấp do thuốc; ung thư dạ dày; loét dạ dày-tá tràng; u lành dạ dày (polip, u mạch); hội chứng Mallory- Weiss; tăng áp lực tĩnh mạch cửa.
Triệu chứng thực thể
Trong cơn đau loét dạ dày-tá tràng thăm khám sẽ thấy: điểm thượng vị ấn đau (loét dạ dày); điểm môn vị-hành tá tràng ấn đau (loét hành tá tràng); dấu hiệu óc ách lúc đói (+), dấu hiệu Bouveret (+): gặp trong hẹp môn vị; gõ thượng vị đau: gặp trong viêm dạ dày…
Các triệu chứng xét nghiệm.
Chụp Xquang dạ dày-tá tràng thấy một số hình ảnh bệnh lý như: thay đổi niêm mạc: to, nhỏ hoặc không đều; thay đổi ở thành dạ dày: có ổ đọng thuốc ở bờ cong nhỏ, bờ cong lớn, có đoạn cứng, hành tá tràng biến dạng hình quân bài “nhép”; rối loạn vận động: co thắt, xoắn; rối loạn trương lực: tăng hoặc giảm; thoát vị hoành; các khối u dạ dày (hình khuyết).
Nội soi dạ dày tá tràng: là xét nghiệm đầu tiên giúp nhìn trực tiếp các tổn thương thực quản, dạ dày, tá tràng phát hiện sớm các tổn thương nhỏ. Nội soi cho biết có trào ngược dịch mật không hoặc trào ngược dạ dày-thực quản. Qua nội soi có thể điều trị bệnh như cầm máu, tiêm xơ, thắt…
Bạn biết gì về bệnh đau dạ dày?
Sinh thiết và xét nghiệm tế bào: tìm tế bào trong dịch vị; sinh thiết trong khi soi: chỗ nghi ngờ có tổn thương để làm mô bệnh học, tế bào học để giúp cho chẩn đoán chính xác. Chẩn đoán viêm dạ dày cấp, mạn, chẩn đoán các khối u, tìm vi khuẩn Helicobacter pylori bằng các test Urease, xét nghiệm mô bệnh học…
Thăm dò chức năng dạ dày: lấy dịch vị bình thường, khối lượng lúc đói không quá 100ml; màu sắc: trong, hoặc không màu; độ quánh: hơi quánh dính và dính do có chất nhầy; cặn thức ăn: sau một đêm cặn thức ăn còn lại rất ít hoặc không còn.
Định lượng bài tiết acid ngay trong dạ dày: là một phương pháp sinh lý nhất, cho phép đánh giá các nội tiết tố và thời gian lưu thức ăn trong dạ dày. Ngoài ra còn xét nghiệm dịch vị dựa trên các phương pháp kích thích tiết acid với histamin, pentagastrin…
Cần phân biệt với một số bệnh
Các bệnh khi đau vùng thượng vị có thể nhầm với viêm loét dạ dày - tá tràng như viêm tụy, viêm đường dẫn mật, sỏi đường dẫn mật; viêm ruột thừa ở những giờ đầu cũng có thể đau thượng vị; ngộ độc thức ăn gây viêm dạ dày cấp tính trong một vài giờ đầu. Đau bụng âm ỉ, đi ngoài phân đen có thể nhầm với bệnh giun móc, khi đó cần xét nghiệm tìm trứng giun móc.
Làm gì khi bị đau dạ dày?
Bệnh nhân không nên tự điều trị mà phải đi khám bệnh để được thầy thuốc khám cẩn thận, cho làm các xét nghiệm như chụp dạ dày, nội soi dạ dày…để chẩn đoán xác định bệnh. Đối với người có hội chứng dạ dày – tá tràng nên kiêng tuyệt đối rượu, bia, chất chua cay và thuốc lá, thuốc lào, các chất gây kích thích khác như nước trà đặc, cà phê, vì những chất này có khả năng làm tổn thương niêm mạc dạ dày.
Ăn uống thế nào?
Ăn uống hợp vệ sinh là khâu quan trọng nhất. Tránh các thức ăn kích thích niêm mạc dạ dày như rượu, bia, nước ngọt có ga, các loại thức ăn chua cay như canh chua, dưa muối, cà muối, cam, chanh, dứa, khế, sấu…, tiêu, ớt, tỏi…
Các loại thực phẩm nên dùng: trứng, sữa, gạo nếp, … Uống sữa với chế độ hợp lí sẽ có tác dụng tốt đối với bệnh nhân đau dạ dày.
Hạn chế ăn các món nướng, chiên rán, các đồ ăn nhanh để phòng bệnh ung thư dạ dày.
Vấn đề điều trị bệnh đau dạ dày
Việc điều trị viêm loét dạ dày - tá tràng dựa trên cơ chế tiêu diệt vi khuẩn HP, sử dụng thuốc chữa bệnh dạ dày gồm các nhóm: kháng sinh, chống tăng tiết dịch vị và bao phủ niêm mạc tránh tác dụng của dịch vị... Hiện nay, vấn đề kháng thuốc của HP đang có chiều hướng gia tăng và thật sự gây khó khăn cho việc điều trị. Nhiều bệnh nhân sau khi điều trị vẫn còn có kết quả HP dương tính làm cho họ rất hoang mang. Những trường hợp kháng thuốc, thầy thuốc bắt buộc phải phối hợp thêm nhiều kháng sinh sẽ làm gia tăng tác dụng phụ và làm cho chi phí điều trị cao hơn. Vì vậy để hạn chế vi khuẩn kháng thuốc, bệnh nhân đau dạ dày và mọi người không nên sử dụng thuốc kháng sinh bừa bãi mà chỉ dùng thuốc kháng sinh theo chỉ định của bác sĩ.

Đối với bệnh ung thư dạ dày cần phát hiện sớm để phẫu thuật loại bỏ khối ung thư. Nếu để muộn việc điều trị thường không có kết quả tốt, bệnh nhân có thể tử vong trong thời gian ngắn.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317