Văn phòng Diện Chẩn Sống Khỏe_ Khu nhà 102 Ngõ 95 Chùa Bộc-Đống Đa-Hà Nội _ ĐT : 0906143408

Hướng dẫn lý thuyết và thực hành cơ bản cho những quí vị thực sự yêu thích Diện Chẩn . Hãy gọi cho chúng tôi để biết lịch .

Tư vấn sức khỏe , chẩn bệnh đưa ra phác đồ miễn phí.

Hiển thị các bài đăng có nhãn Viêm loét dạ dày. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Viêm loét dạ dày. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2015

Mẹo hay chữa đau dạ dày trong tích tắc

Khi bị đau dạ dày, bạn có thể tự giảm cơn đau của mình bằng các cách sau.
Đau dạ dày là bệnh lý về đường tiêu hóa, đây là biểu hiện của dạ dày bị tổn thương dẫn đến những cơn đau khó chịu, âm ỉ cho người bệnh nhất là những lúc dạ dày no quá hoặc đói quá. Bệnh thường chủ yếu xảy ra với những người thường xuyên phải thức đêm, uống nhiều bia rượu và đây cũng là những nguyên nhân chính gây ra bệnh. Khi bị đau dạ dày, người bệnh có thể áp dụng một số mẹo làm giảm nhanh cơn đau và hỗ trợ việc chữa đau dạ dày hiệu quả.
Trà gừng
Mẹo hay chữa đau dạ dày trong tích tắcCó thể chữa đau dạ dày bằng cách uống một ly trà gừng
Gừng là một trong những vị thuốc tự nhiên chữa bệnh tốt nhất. Gừng có đặc tính chống viêm và chống ôxy hóa. Một tách trà gừng có thể làm giảm ngay cơn đau dạ dày. Gừng đồng thời có tác dụng giảm buồn nôn và ói mửa. Người bệnh chỉ cần thêm một vài lát gừng thái nhỏ vào tách trà buổi sáng hoặc buổi tối, đặc biệt là trà xanh sẽ hạn chế được cơn đau dạ dày trong vòng 2-3 ngày. Ngoài ra, cũng có thể thêm một thìa nước cốt gừng tươi và một thìa nước chanh vào cốc nước lọc sau đó nguấy đều. Tiếp theo thêm một thìa mật ong vào hỗn hợp trên và uống đều đặn vào buổi sáng hàng ngày.
Nước muối ấm
Nước muối ấm không chỉ là bài thuốc chữa viêm họng tại nhà hiệu quả mà còn có tác dụng chữa đau dạ dày rất tốt. Khi người bệnh có các triệu chứng đau dạ dày, hãy cho một thìa muối vào nước ấm, khuấy đều cho muối tan hết. Hãy uống nước muối ấm ngay lập tức để chấm dứt tình trạng đau, co thắt và rối loạn chức năng dạ dày.
Mẹo hay chữa đau dạ dày trong tích tắcUống nước muối ấm giúp giảm cơn đau dạ dày nhanh chóng
Nước ép bạc hà
Lá bạc hà có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa và được sử dụng để chữa trị chứng đau và co thắt dạ dày. Người bệnh chỉ cần nhai một hoặc hai lá bạc hà tươi 2-3 lần trong vài ngày sẽ dịu bớt cơn đau. Ngoài ra có thể cho một vài nhánh bạc hà vào một cốc trà nóng. Uống 2-3 lần trong ngày. Đây là một trong những cách tự nhiên để trị đau dạ dày hiệu quả.
Nước chanh
Loại nước này được sử dụng để điều trị chứng khó tiêu, buồn nôn và ói mửa. Đây là một trong những biện pháp khắc phục chứng đau bụng và chuột rút tốt nhất. Có thể nhai một vài lá bạc hà hoặc làm nước ép từ lá bạc hà. Hoặc cũng có thể cho 2-3 thìa đường nước chanh tươi vào nước ấm và khuấy đều. Uống 2-3 cốc nước chanh mỗi ngày để làm dịu hẳn cơn đau dạ dày.
Mẹo hay chữa đau dạ dày trong tích tấcMột cốc nước chanh với 2-3 thìa đường sẽ làm dịu cơn đau dạ dày hiệu quả
Giấm rượu táo
Một trong những biện pháp tự nhiên trị bệnh đau dạ dày là giấm rượu táo. Nó được dùng để điều trị chứng khó tiêu, hỗ trợ hấp thu các vitamin và khoáng chất, bên cạnh đó là đặc tính kháng khuẩn, rất hiệu quả trong việc làm giảm cơn đau dạ dày. Người bệnh chỉ cần pha loãng ba muỗng cà phê giấm rượu táo trong một cốc nước ấm, uống 3 lần mỗi ngày trước các bữa ăn.
Chườm ấm bụng
Lăn nhẹ chai nước nóng trên bụng là cách cứu trợ khẩn cấp khi bị đau dạ dày. Lăn trong vòng 5 phút rồi ngưng một thời gian, lặp lại quá trình này nhiều lần, cơn đau dạ dày sẽ giảm nhanh chóng.

Người bệnh nên lưu ý tránh sử dụng các loại đồ ăn bơ sữa trong một vài ngày bởi trong đó có các vi sinh vật không có lợi cho dạ dày. Tránh đồ ăn cay, có mỡ hoặc đồ ăn ngọt. Thay vào đó ăn nhiều rau, củ, quả để làm dịu cơn đau. Ngoài ra, nên ăn các đồ ăn nhạt giúp thức ăn dễ tiêu hóa hơn khi bị đau dạ dày.

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2015

Phòng bệnh viêm đại tràng xích-ma

Viêm đại tràng xích-ma (sigma) là tình trạng bị viêm nhiễm, gặp ở mọi lứa tuổi nhưng người có tuổi chiếm tỉ lệ khá cao. Viêm đại tràng xích-ma gây không ít phiền muộn cho người bệnh, ảnh hưởng đến sinh hoạt và tuổi thọ của người cao tuổi.

Về mặt giải phẫu, đại tràng được chia thành 4 đoạn (đại tràng lên, đại tràngngang, đại tràng xuống và đại tràng xích-ma (có dạng hình chữ sigma ). Đại tràng xích-ma là một đoạn ngắn của đại tràng xuống nối với trực tràng. Có rất nhiều nguyên nhân gây viêm đại tràng xích-ma và những nguyên nhân gây viêm đại tràng, trực tràng đều có thể gây viêm đại tràng xích ma. Ngày nay, bệnh viêm đại tràng mạn tính là một trong những bệnh không chỉ phổ biến ở Việt Nam mà còn ở trên toàn thế giới.
Một số nguyên nhân
Căn nguyên viêm đại tràng rất đa dạng với rất nhiều nguyên nhân khác nhau, hay gặp nhất là viêm đại tràng do vi sinh vật, trong đó lỵ amíp chiếm tỉ lệ khá cao, nhất là ở những địa phương vệ sinh môi trường chưa tốt, ở những người ăn rau sống, ăn thực phẩm chưa nấu chín hoặc còn sống (tiết canh, nem chạo…). Với vi khuẩn, một số loại thường gây viêm đại tràng như vi khuẩn thương hàn (Salmonella), vi khuẩn lỵ (Sghigella), Campylobacter, E. coli, Clostridium difficile (trực khuẩn kỵ khí). Viêm đại tràng có thể do vi khuẩn lao (Mycobacterium). Với virút, loại thường gặp nhất gây viêm đại tràng là Cytomegalovirus. Ngoài ra, viêm đại tràng xích-ma còn có thể do tác động của bức xạ trong điều trị một số bệnh ung thư, bệnh Cohn (dễ bị chẩn đoán nhầm với viêm ruột thừa). Nhiều trường hợp không tìm thấy căn nguyên gây bệnh, đó được gọi là viêm đại tràng xích-ma vô căn. Nguyên nhân này găp khá phổ biến cho nên việc điều trị nguyên nhân gặp không ít khó khăn.
Triệu chứng
Các triệu chứng thường gặp khi viêm đại tràng như: tiêu chảy có máu, đau bụng và có cảm giác buốt, mót đi ngoài. Đau bụng là triệu chứng lúc nào cũng gặp ở người bị viêm đại tràng xích-ma, thường là đau bụng bụng dưới và thấy nhiều ở hố chậu trái hay hố chậu phải. Với triệu chứng này rất dễ nhầm với viêm ruột thừa. Người bệnh thường có rối loạn tiêu hóa (đầy bụng, chướng bụng, ăn không tiêu, chán ăn), phân không thành khuôn, đôi khi có nhày lẫn máu, nhất là viêm đại tràng do ký sinh trùng amíp. Thỉnh thoảng táo bón và càng bị táo bón càng đau bụng.
Một số trường hợp, người bệnh bị tiêu chảy do hiện tượng viêm phù nề niêm mạc đại tràng làm cản trở sự hấp thu nước từ thức ăn.
Nguyên tắc điều trị
Khi người cao tuổi bị đau bụng, rối loạn tiêu hóa cần được khám bệnh đầy đủ, khám càng sớm càng tốt, và tốt nhất là khám chuyên khoa tiêu hóa để được xác định và điều trị tránh để bệnh thành mạn tính, khó chữa. Người bệnh không nên tự chẩn đoán bệnh và không nên tự mua thuốc để điều trị, làm như vậy, bệnh không những không khỏi, đôi khi còn nặng thêm, nguy hiểm thêm. Khi đã được xác định viêm đại tràng, người cao tuổi cần kiên trì điều trị, tái khám đúng lịch hẹn của bác sĩ, không nên bỏ hoặc quên không dùng thuốc đều đặn theo lời dặn của bác sĩ.
Phòng bệnh viêm đại tràng xích-ma
Nguyên tắc dự phòng
Người cao tuổi cần có chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt hợp lý. Không ăn rau sống, không uông nước chưa đun sôi và không ăn các loại thực phẩm nấu chưa chín hoặc không đun nấu (tiết canh). Trong các bữa ăn chính cần tăng cường ăn rau, canh và nên ăn thêm các loại trái cây như: cam, bưởi, xoài, đu đủ chín và uống đủ lượng nước cần thiết (khoảng 1, 5 - 2,0 lít). Bên cạnh đó, cần vận động cơ thể một cách đều đặn, thường xuyên. Mỗi một người nên chọn cho mình một cách vận động thích hợp nhất tùy theo sức khỏe và điều kiện.
Với người cao tuổi bị viêm đại tràng mạn tính thường mệt mỏi, chán ăn, không muốn ăn, thậm chí bỏ bữa hoặc kiêng khem quá mức dẫn đến nguy cơ suy dinh dưỡng. Vì vậy, người nhà cần động viên, giúp đỡ, đặc biệt đối với người cao tuổi sức yếu, đi lại khó khăn.
Hay gặp nhất là viêm đại tràng do vi sinh vật, trong đó lị amíp chiếm tỉ lệ khá cao.

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015

Bệnh co thắt thực quản

Nguyên nhân
Những yếu tố liên quan đến sự xuất hiện của bệnh:
Tuổi: thường gặp ở người tuổi trẻ (18-40 tuổi).
Giới: nữ giới hay bị bệnh co thắt tâm vị hơn nam giới.
Cơ địa: thường gặp ở những bệnh nhân có dạng thần kinh không cân bằng, dễ xúc cảm, đặc biệt là những người cường hệ phó giao cảm.
Bệnh co thắt thực quản
Hình ảnh co thắt thực quản trên phim X quang
Chế độ ăn uống: hay gặp ở những người có chế độ ăn nhiều Gluxit,ít Protit và thiếu Vitamin nhóm B.
Yếu tố vật lý: thức ăn quá nóng hay quá lạnh đều có thể làm tình trạng co thắt tâm vị nặng hơn.
Các bệnh lý khác trong cơ thể: các bệnh nhiễm khuẩn toàn thân (sốt phát ban, lao, giang mai...), các chất độc đối với thần kinh (rượu, thuốc lá, chất hoá học...), các rối loạn nội tiết, viêm dính quanh thực quản, loét tâm vị, giảm trương lực hoăc giảm nhu động cơ thực quản...
Như vậy, có thể thấy co thắt tâm vị không hẳn là một bệnh riêng mà là một tình trạng bệnh lý do những nguyên nhân bẩm sinh hay mắc phải.
Triệu chứng
Người bệnh khi ăn khó nuốt, nuốt nghẹn: mức độ phụ thuộc vào tính chất lý hoá của thức ăn và vào từng bệnh nhân cụ thể. Có bệnh nhân uống được sữa nhưng uống nước khó, ăn thức ăn lạnh được nhưng ăn thức ăn nóng khó hoặc ngược lại. Cảm giác nặng tức trong lồng ngực và đau vùng sau xương ức,nhất là sau khi ăn.
Oẹ: là hiện tượng thức ăn đọng lại trong đoạn thực quản bị giãn trên chỗ hẹp trào ngược ra miệng. Lúc đầu, oẹ xuất hiện ngay sau ăn,s ố lượng ít và chưa lên men,độ toan thấp.Về sau do thực quản trên chỗ hẹp giãn nhiều, sự cản trở lưu thông thức ăn qua thực quản tăng lên dẫn tới oẹ xa sau bữa ăn, số lượng nhiều (200-300 ml), chất nôn lên men, chua nồng, thối, lẫn với thức ăn chưa tiêu và cả niêm dịch nhầy. Có bệnh nhân phải ngủ ở tư thế nửa nằm nửa ngồi vì khi chuyển từ tư thế ngồi sang nằm thường gây ọe rất nhiều.
Bệnh nhân khi chụp X-quang ở tư thế đứng: thấy hình ảnh thuốc đọng lại trên chỗ hẹp. Tâm vị có độ mở khác nhau tuỳ từng trường hợp. Có thể thấy hình ảnh thuốc cản quang xuống như tuyết rơi ở đoạn thực quản giãn khi thực quản chưa được rửa sạch. Nhu động thực quản thưa thớt,đôi khi có sóng nhu động phản hồi làm thuốc cản quang bị trào ngược. Dựa vào hình ảnh chụp X.quang có thể chia ra hai loại:
Loại 1: đoạn hẹp thực quản ngắn và sát ngay trên cơ hoành, phần trên thực quản giãn rất to và gấp khúc (thực quản có hình cái bít tất). Loại này hay gặp (chiếm khoảng 70% số bệnh nhân).
Loại 2: đoạn hẹp thực quản dài và phần trên chỗ hẹp giãn vừa phải (thực quản có hình củ cải). Loại này ít gặp hơn loại 1 (chiếm khoảng 30% số bệnh nhân).
Soi thực quản: thấy tâm vị đóng kín, niêm mạc bị viêm, phù nề, xung huyết hoặc có những vết loét.
Ngoài ra có thể dùng một số phương pháp khám cận lâm sàng khác như: đo áp lực thực quản, chụp thực quản cắt lớp vi tính (CT)...
Biến chứng của bệnh
Ở một số trường hợp bệnh diễn biến chậm và âm thầm, bệnh nhân sống bình thường trong một thời gian dài. Một số khác bệnh diễn biến thành từng đợt. Bệnh nhân có thể bị tử vong đột ngột do phản xạ tim mạch hay dây X hoặc do ngạt thở vì trào ngược thức ăn vào khí quản. Nếu ở giai đoạn muộn và không được điều trị tốt, bệnh nhân có thể chết vì suy dinh dưỡng.
Nếu không được điều trị kịp thời,bệnh có thể có các biến chứng như: viêm loét thực quản; sẹo xơ gây chít hẹp thực thể thực quản; chèn ép khí quản, tĩnh mạch, tim... do đoạn thực quản giãn; viêm phổi, ápxe phổi do trào ngược thức ăn; ung thư hoá tại vùng viêm mãn tính của thực quản…
Điều trị bệnh thế nào?
Với chế độ ăn: ăn thức ăn mềm hoặc lỏng, dễ tiêu. Nhai kỹ và nuốt từ từ. Bệnh nhân nên tự tìm lấy chế độ ăn thích hợp cho mình.
Dùng thuốc: cho đến nay vẫn chưa có loại thuốc nào đưa lại hiệu quả điều trị triệt để cho bệnh co thắt tâm vị. Có thể dùng một số thuốc điều trị triệu chứng như: atropin, nitrit amyl... để mở cơ tâm vị, các thuốc trấn tĩnh dịu thần kinh để điều hoà các rối loạn giao cảm, các thuốc chống viêm và giảm xuất tiết niêm mạc thực quản...
Rửa thực quản: có thể rửa hàng ngày vào lúc 2 - 4 giờ sau khi ăn và trước khi ngủ để tránh hiện tượng đánh trống ngực và khó thở khi nằm.

Nong và thông thực quản: để tránh hiện tượng ứ đọng thức ăn ở thực quản.


Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

Viêm dạ dày mạn tính

Nguyên nhân gây bệnh
Nguyên nhân gây viêm dạ dày là các yếu tố ngoại sinh như thuốc giảm đau chống viêm non steroid và steroid, rượu, các thức ăn quá nóng, quá lạnh, các thức ăn bị nhiễm khuẩn… các yếu tố nội sinh như stress (đặc biệt các stress gặp trong các chấn thương nặng, bỏng nặng, chấn thương sọ não…), tăng ure huyết trong suy thận, tăng thể ceton trong đái tháo đường, do dị ứng hoặc do xoắn khuẩn HP…
Viêm dạ dày mạn tính
Nội soi giúp phát hiện bệnh lý ở dạ dày.
Nhiễm HP (Helicobacter pylori) là nguyên nhân hàng đầu gây nên tình trạng việm dạ dày mạn tính. Ở một số người, HP có thể phá vỡ lớp bảo vệ bên trong dạ dày, gây ra những thay đổi trong niêm mạc của dạ dày.
Những người lớn tuổi có nguy cơ viêm dạ dày do niêm mạc dạ dày có xu hướng mỏng với độ tuổi, hơn nữa người lớn tuổi có nhiều khả năng có HP nhiễm khuẩn, hoặc rối loạn tự miễn dịch hơn so với người trẻ tuổi.
Biểu hiện lâm sàng
Không có dấu hiệu lâm sàng đặc trưng của viêm dạ dày mạn. Bệnh nhân có những rối loạn cơ năng tương tự như rối loạn tiêu hoá xảy ra sớm sau khi ăn, nhất là sau bữa ăn trưa. Đó là cảm giác nặng bụng, ợ hơi, nhức đầu, mặt đỏ, cảm giác đắng miệng vào buổi sáng, buồn nôn, nôn, chán ăn, táo lỏng thất thường; nóng rát vùng thượng vị xuất hiện sau hoặc trong khi ăn, đặc biệt rõ sau khi ăn uống một số thứ: bia, rượu, gia vị cay chua hoặc ngọt. Đau vùng thượng vị khó chịu, âm ỉ thường xuyên tăng lên sau khi ăn.
Biểu hiện viêm teo niêm mạc dạ dày là biểu hiện của giai đoạn cuối của viêm dạ dày mạn tính do nhiễm HP và tự miễn dịch.
Các triệu chứng của viêm dạ dày mạn do nhiễm HP thường ít biểu hiện, có thể gặp đau bụng, chán ăn, buồn nôn và nôn. Nặng hơn có thể gặp các triệu chứng do biến chứng của viêm teo niêm mạc dạ dày do nhiễm HP mạn tính như loét và ung thư dạ dày.
Biểu hiện của viêm teo niêm mạc dạ dày do tự miễn thường là các triệu chứng của thiếu hụt chất cobalamin (vitamin B12) mà nguyên nhân là do thiếu hụt chất có tác dụng giúp hấp thu vitamin B12. Bệnh khởi đầu âm thầm và tiến triển chậm chạp. Triệu chứng có thể gặp là: mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, hồi hộp, đau ngực... thậm chí là các biểu hiện của suy tim sung huyết. Biểu hiện trên hệ tiêu hóa như: viêm lưỡi miệng, chán ăn, tiêu chảy dẫn tới sụt cân. Biểu hiện trên hệ thần kinh là hậu quả do mất myelin ở cả thần kinh ngoại vi lẫn trung ương: rối loạn cảm giác, yếu cơ, mất điều hòa; dễ cáu kỉnh, giảm trí nhớ, loạn thần...
Điều trị và dự phòng
Hiện nay, chưa có điều trị đặc hiệu. Một số thuốc thường sử dụng trong điều trị viêm dạ dày mạn tính: phối hợp hai kháng sinh nếu có vi khuẩn HP một kháng sinh thuộc nhóm imidazole (metronidazole, tinidazole) và một kháng sinh thuộc nhóm marcrolid (clarythromycin); một thuốc ức chế bơm proton (omeprazole, lansoprazole) hoặc thuốc ức chế thụ thể H2 (cimetidin, ranitidin..). Ngoài ra, tùy theo điều kiện của bệnh nhân, tình trạng tổn thương, có thể sử dụng thêm các thuốc băng se niêm mạc dạ dày, trung hòa dịch vị, nuôi dưỡng niêm mạc dạ dày, sinh tố, an thần. Thời gian điều trị tùy thuộc vào tình trạng cụ thể của bệnh nhân, nhưng tối thiểu là 4 - 6 tuần.

Bên cạnh đó, việc phối hợp với một chế độ ăn hợp lý giúp cải thiện bệnh. Bệnh nhân nên ăn chậm, nhai kĩ, ăn những loại thức ăn dễ tiêu, nấu chín kĩ, khoảng cách giữa các bữa ăn hợp lý; ăn tăng rau xanh, hoa quả, thức ăn giàu đạm, ít béo ít đường, nên kiêng ăn uống các chất kích thích như rượu bia, thuốc lá, cà phê, ớt, các đồ chua cay, cần có một chế độ lao động làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, tránh lo âu, căng thẳng tâm lý. Tránh loại thức ăn quá nóng, quá lạnh hoặc cứng rắn. Cần tuân thủ chặt chẽ phác đồ điều trị mà bác sĩ đưa ra, trong khoảng thời gian từ 6 tháng đến một năm thì nội soi dạ dày tá tràng một lần để kiểm tra, kịp thời xử lý các tổn thương nếu có.


Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2015

Thực phẩm xông khói, muối chua làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày

TS Melvin Look, Bệnh viện Mount Elizabeth, Singapore cho biết, tỷ lệ mắc ung thư dạ dày trong dân số chung đã giảm do người dân biết trữ lạnh thức ăn và cải thiện chế độ ăn uống theo hướng lành mạnh hơn. Tuy nhiên, đây vẫn là một trong những loại ung thư phổ biến nhất thế giới, bởi nhiều nguyên nhân.
Bên cạnh đó, nguy cơ cao ung thư dạ dày thường gặp ở nhóm có người thân bị bệnh này, trên 40 tuổi, hút thuốc, ăn nhiều thực phẩm xông khói hay muối chua. Nghiên cứu cho thấy lượng sodium cao trong thực phẩm muối chua có thể gia tăng nguy cơ tăng huyết áp và ung thư dạ dày nếu ăn thường xuyên.
Những triệu chứng thường gặp của ung thư dạ dày là đau dai dẳng và khó chịu vùng bụng trên, buồn nôn, sụt cân, mất vị giác. Ở những trường hợp nặng, dạ dày có thể bị xuất huyết hay thủng khiến bệnh nhân nôn ra máu hoặc đi cầu phân đen.
Lựa chọn phương pháp điều trị ung thư dạ dày tùy thuộc vào tình trạng cụ thể của mỗi bệnh nhân. Ở giai đoạn đầu, bác sĩ có thể loại bỏ các mô bị bệnh bằng phương pháp nội soi mà không cần phẫu thuật, với tỷ lệ chữa khỏi gần 100%. Nếu ung thư đã tiến triển thì cần phải phẫu thuật kết hợp xạ trị hoặc hóa trị để giảm nguy cơ tái phát. Cơ hội sống sót của bệnh nhân phụ thuộc nhiều vào giai đoạn bệnh sớm hay muộn, do đó phát hiện càng sớm thì cơ hội sống sót càng cao.