Văn phòng Diện Chẩn Sống Khỏe_ Khu nhà 102 Ngõ 95 Chùa Bộc-Đống Đa-Hà Nội _ ĐT : 0906143408

Hướng dẫn lý thuyết và thực hành cơ bản cho những quí vị thực sự yêu thích Diện Chẩn . Hãy gọi cho chúng tôi để biết lịch .

Tư vấn sức khỏe , chẩn bệnh đưa ra phác đồ miễn phí.

Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh thoái hoá khớp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh thoái hoá khớp. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2015

Điều trị thoái hóa - thoát vị cột sống cổ bằng nhu châm

Có 2 bệnh lý thường gặp ở cột sống cổ là thoái hóa và thoát vị đĩa đệm cột sống cổ. Có thể là 2 bệnh lý riêng biệt, nhưng đa phần trường hợp thường phối hợp trên cùng một người bệnh (nhất là bệnh nhân từ tuổi trung niên trở nên), có cùng tác động do quá trình thoái hóa của đĩa đệm và đốt sống cổ(gai xương, hẹp lỗ liên hợp...) gây chèn ép các tổ chức lân cận: rễ thần kinh, tủy cổ, mạch máu...
Có sự liên quan bệnh lý của quá trình thoái hóa cột sống và thoát vị đĩa đệm cột sống cổ:
- Khi gai đốt sống và đĩa đệm lồi vào trong ống sống gây ra chèn ép tủy sống và rễ thần kinh; còn lồi vào lỗ liên hợp chỉ gây chèn ép rễ, làm ảnh hưởng xấu đến chức năng thần kinh.
- Có vai trò thiếu máu của động mạch và tĩnh mạch (chạy cạnh bện cột sống) bị chèn ép, gây thiếu máu lên não và là một cơ chế sinh lý bệnh học liên quan đến rối loạn thần kinh thực vật.
- Sự chuyển động bất thường của mặt khớp và sự chèn ép tủy từng đợt do gai đốt sống tác động khi chuyển động cổ, có thể gây ra bệnh lý đĩa đệm đốt sống cổ.
- Vai trò chấn thương vùng cổ cấp tính và mãn tính, liên quan đến quá trình thoái hóa và thoát vị đĩa đệm cột sống (tác động rõ hơn trên bệnh nhân đã có sẵn thoái hóa cột sống cổ).
Triệu chứng lâm sàng
Do triệu chứng khởi phát âm thầm và tiến triển từ từ trong thời gian dài, khiến bệnh nhân chủ quan không điều trị kịp thời, đến khi biểu hiện lâm sàng nặng và có nhiều biến chứng, người bệnh ý thức cần được điều trị thì đã chậm trễ, gây khó khăn cho điều trị và tốn kém về thời gian và tiền bạc.
Một số biểu hiện lâm sàng gây hoang mang và nhầm lẫn cho người bệnh, như: tưởng bệnh tim (có đau ngực, hồi hộp...), bệnh phổi (có đau xiên giữa 2 bả vai), bệnh suy nhược thần kinh hay hội chứng tiền đình (có đau nặng đầu, chóng mặt, rối loạn giấc ngủ, hay quên).
Biểu hiện chung ở giai đoạn nhẹ chủ yếu là đau mỏi âm ỉ, kéo dài ở vùng cổ gáy. Đau tăng khi mang xách nặng, ngồi lâu trên máy tính, khi thay đổi thời tiết, về đêm gần sáng và giảm khi nghỉ nghơi và xoa bóp. Kèm theo người bệnh thường mệt mỏi, khó ngủ, ngủ không sâu...
Mức độ nặng hơn có kèm các hội chứng: hội chứng chèn ép rễ thần kinh, hội chứng chèn ép tủy cổ và hội chứng rối loạn thần kinh thực vật.
Hội chứng chèn ép rễ thần kinh: người bệnh thường có biểu hiện đau, tê, yếu cơ ở cổ, gáy. Đau tê lan xuống vai và cánh tay, bàn tay.
- Đau có thể lan dọc xuống dưới đến giữa 2 bả vai, gây đau nhói vùng bả vai, tăng khi ấn chẩn.
- Một số trường hợp đan lan ra trước ngực, gây cơn đau nhói ngực vùng trước tim, kéo dài trong một vài giây gây hoang mang cho người bệnh vì tưởng bị đau tim, thiếu máu cơ tim.
Hội chứng chèn ép tủy cổ: thường có biểu hiện rối loạn cảm giác trong lúc cột sống cổ chỉ đau nhẹ hoặc một số ít người bệnh không đau. Rối loạn vận động là triệu chứng nổi bật, lúc đầu thấy mất khéo léo bàn tay, thay đổi dáng đi, một số người bệnh có cảm giác yếu đột ngột nhưng thoáng qua ở tay, hay nửa bên người.
Ở mức độ nặng hơn có yếu liệt dần dần xuất hiện các biểu hiện yếu liệt một hay 2 tay (kiểu ngoại biên), yếu liệt hai chân (kiểu trung ương). Kèm có rối loạn về phản xạ và cơ vòng (cầu tiểu kém tự chủ).
Hội chứng rối loạn thần kinh thực vật: có biểu hiện lâm sàng gây nhiều khó chịu cho người bệnh:
- Đổ mồ hôi vùng đầu và gáy, cảm giác ớn lạnh, sợ lạnh.
- Chóng mặt, ù tai, mất thăng bằng, mắt mờ từng cơn, đôi khi đau ở phần sau hốc mắt, có những cơn đỏ mặt đột ngột, cơn hạ huyết áp, vã mồ hôi, tăng nhu động ruột, cơn đau ngực, khó nuốt do chèn ép thực quản.
- Một số trường hợp nặng có thể thoáng ngất.
Khi có biểu hiện trên, người bệnh cần được đến khám và điều trị kịp thời. tùy mức độ bệnh lý bác sỹ chỉ định một số xét nghiệm, thường:
- Chụp X-quang cột sống cổ C1 - C7: thẳng - nghiêng và chếch 3/4 trái và phải: giúp đánh giá trục cột sống và tình trạng thoái hóa.
- Đo điện cơ: giúp đánh giá vị trí và tình trạng chèn ép các rễ thần kinh.
Chụp cộng hưởng từ MRI: phương pháp chẩn đoán tốt nhất hiện nay, có độ chính xác cao nhất.
Điều trị
Thoái hóa cột cột sống cổ đơn thuần: thường điều trị nội khoa.
Khi bị thoát vị đĩa đệm cột sống cổ, tùy từng mức độ tổn thương mà bác sĩ sẽ khuyên bạn nên điều trị như thế nào (phẫu thuật hay điều trị nội khoa). Trên 90% số ca được điều trị nội khoa, trường hợp thoát vị gây chèn ép và có các triệu chứng nặng sẽ xem xét điều trị ngoại khoa.
Điều trị nội khoa có biện pháp chung:
Giúp phục hồi hoạt động của cột sống - đĩa đệm, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
Sinh hoạt đúng: vừa có tác dụng điều trị vừa là các biện pháp phòng ngừa và giảm tái phát.
- Nằm nệm hay gường cứng, chú ý gối: mền có độ cao vừa phải.
- Không nên làm việc quá lâu tại bàn giấy, đặc biệt với máy vi tính (cứ mỗi 30 - 40 phút nên dừng lại để thực hiện các động tác tập vận động cột sống cổ, vai và tay). Các động tác tự xoa bóp vùng cổ gáy có tác dụng tốt chống thoái hóa.
- Giữ ấm vùng cổ vai khi trời lạnh, khi đi xe máy và đi ngủ, tránh uống nước đá, nước lạnh. Hạn chế ăn măng, cà pháo, cà tím ...
- Tránh các động tác làm căng cơ cổ như xách vật nặng một tay, đeo túi xách, bê vác nặng.
- Loại trừ thói quen xấu: chế độ ăn ít can xi và khoáng chất, lối sống ít thể dục và ít vận động cũng làm cho quá trình thoái hóa cột sống - đĩa đệm diễn ra nhanh hơn.
Thuốc điều trị:
Kết hợp cả Y học cổ truyền và Y học hiện đại.
Thuốc Y học hiện đại: dùng các nhóm:
- Thuốc giảm đau, thuốc chống viêm: tác dụng tốt giai đoạn đầu.
- Dùng paracetamol: 1g - 2g/ ngày. Đôi khi cần chỉ định các thuốc giảm đau bậc 2: Paracetamol phối hợp với Tramadol 1 - 2g/ngày.
- Thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs): Etoricoxia 30mg - 60mg/ngày, Celecoxib 200mg/ngày, Meloxicam 7,5 - 15mg/ngày.
- Thuốc chống viêm không steroid khác: Diclofenac 50 - 100mg/ngày, Piroxicam 20mg/ngày...
- Thuốc giãn cơ.
- Thuốc giảm viêm rễ thần kinh.
- Thuốc điều trị triệu chứng tác dụng chậm: nên chỉ định sớm, kéo dài, khi có đợt đau, kết hợp với các thuốc điều trị triệu chứng tác dụng nhanh nêu trên.
- Glucosamine sulfate: 1,5g/ngày.
- Thuốc ức chế Interleukin 1: Diacerein 50mg x 2 viên/ngày.
- Lưu ý: tránh các tác dụng không mong muốn của thuốc, tương tác thuốc và các bệnh kết hợp ở người cao tuổi.
Thuốc Y học cổ truyền: có tác dụng thông kinh mạch, bổ can thận, mạnh gân xương. Theo tác dụng dược lý: chống viêm, giảm đau, chống oxy hóa (chậm quá trình lão hóa).
- Thuốc sắc, nhiều bài thuốc như: Khương hoạt thắng thấp thang. Thân thống trục ứ thang gia giảm.
- Thuốc viên, hoàn, thuốc ngâm rượu.
Điều trị ngoại khoa:
Cần khám và tư vấn của bác sĩ điều trị về phương pháp, biến chứng sau phẫu thuật và chi phí.
Đa số phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống cổ thường khoét bỏ đĩa đệm. Phẫu thuật cùng lúc hai đĩa đệm trở lên làm mất vững cột sống nên thường phải cố định cột sống bằng nẹp vít.
Các biện pháp không dùng thuốc:
Tập vật lý trị liệu:
Nghỉ ngơi kết hợp bài tập tại gường: giảm áp lực cho đĩa đệm cột sống, giảm đau, giảm co cứng cơ ( đó là một cách phòng ngừa do luyện tập các cơ đốt sống).
- Kéo giãn cột sống cổ.
- Kết hợp nhiệt điều trị: các phương pháp siêu âm, hồng ngoại, chườm nóng, liệu pháp suối khoáng, bùn có hiệu quả cao.
Châm cứu:
Có nhiều kỹ thuật châm cứu có đáp ứng tốt trong điều trị như điện châm, thủy châm, nhu châm.
Cột sống ở cổ gồm có 7 đốt sống.
Thoái hóa cột sống cổ là tình trạng thoái hóa của sụn khớp và đĩa đệm (ở cột sống cổ), phối hợp với những thay đổi ở phần xương dưới sụn và màng hoạt dịch, gây đau, hạn chế vận động cột sống và chèn ép vào rễ thần kinh. Đây là hậu quả của quá trình lão hóa và tình trạng chịu áp lực quá tải kéo dài của sụn khớp và đĩa đệm cột sống cổ.
Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ là do đĩa đệm thoái hóa chèn ép vào rễ thần kinh hoặc tủy sống cổ. Đây là một bệnh thường gặp và có nhiều biến chứng nguy hiểm.

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2015

Một số bài tập phục hồi sau mổ thay khớp háng

Phẫu thuật thay khớp háng ngày nay đã được chứng minh là một giải pháp điều trị rất hiệu quả, khá an toàn cho những người có những chấn thương, bệnh lý về khớp háng.Tuy vậy, sau phẫu thuật, người bệnh cần nắm được những thông tin cần thiết, đặc biệt phải thực hiện các bài tập nhằm tăng cường sức khỏe cho cơ vùng đùi và quanh khớp háng, tăng độ linh hoạt cho khớp sau phẫu thuật thì hiệu quả điều trị mang lại mới tốt nhất.
Một số bài tập phục hồi sau mổ thay khớp háng
Khớp háng bình thường.
Khớp háng là khớp nối liền giữa xương đùi và xương chậu, là khớp lồi cầu-ổ cối, trong đó chỏm xương đùi có hình cầu (tròn) di động xoay tròn trong ổ cối (hõm cối). Không giống như khớp kiểu bản lề của khớp gối, chỉ cử động hai hướng là gấp và duỗi, khớp háng chuyển động nhiều hướng: gấp duỗi, dạng khép, xoay trong xoay ngoài. Biên độ vận động lớn nhưng khớp háng không dễ trật vì có hệ thống dây chằng bao khớp, đặc biệt là hệ thống cơ quanh khớp rất chắc, khỏe. Hệ thống cơ này giúp khớp háng thực hiện được nhiều động tác như: đi, chạy, ngồi, bước lên, xuống cầu thang...
Khớp nhân tạo
Khớp háng nhân tạo có hai phần: một ổ cối (Cup) được gắn chặt vào xương chậu; một chỏm hình cầu nối với cán dài hình mỏ, gắn chặt vào ống tủy đầu trên xương đùi.
Khớp háng nhân tạo có biên độ vận động khá tốt, mặc dù có hạn chế hơn một chút so với khớp bình thường. Khi gắn vào cơ thể, khớp háng nhân tạo được cố định vững chắc vào xương chậu và ống tủy xương đùi. Hệ cơ và dây chằng, bao khớp xung quanh giữ cho khớp không bị trật mỗi khi vận động, cơ càng khỏe thì nguy cơ trật khớp sau mổ càng thấp. Đây là lý do tại sao tập cơ sau mổ có vai trò quan trọng.
Trước mổ do tình trạng đau, chân ít vận động trong nhiều tháng, nhiều năm gây nên tình trạng teo cơ vùng mông, đùi, làm cho cơ yếu hơn bình thường. Nguy cơ trật khớp háng sẽ cao nhất trong 6-8 tuần đầu sau mổ. Để tránh nguy cơ này, người bệnh sau mổ cần thảo luận cùng bác sĩ mổ, điều dưỡng, bác sĩ phục hồi chức năng để biết cách phòng tránh.
Trật khớp nhân tạo thường dễ xảy ra khi: bệnh nhân bắt chéo chân mổ sang bên chân lành; ngồi thấp, háng gấp quá 90 độ; xoay chân mổ vào trong...
Để đề phòng trật khớp háng sau mổ, nên đặt một gối nhỏ giữa hai chân khi nằm tránh khép háng. Gối này đặt thường xuyên ngay sau mổ và trong suốt thời gian nằm viện. Trong hai tuần đầu sau mổ, không được ngồi trên giường hoặc trên ghế và vươn người về phía trước. Thời gian về sau, khi cơ vùng quanh khớp háng khỏe lên, những động tác này có thể được cải thiện.
Một số bài tập phục hồi sau mổ thay khớp háng
Khớp háng nhân tạo.
Tập luyện thế nào?
Trong quá trình tập luyện, người bệnh có thể bước đi bình thường với khớp háng mới, tuy nhiên mới đầu sẽ đau và có cảm giác cứng khớp. Khi đó bác sĩ phẫu thuật sẽ khuyên bệnh nhân nên dùng nạng hỗ trợ khi đi lại và tỳ chân mức độ hợp lý, cùng với quy trình tập luyện được bác sĩ phục hồi chức năng đưa ra, người bệnh sẽ thích nghi dần và đau sẽ giảm dần, đến lúc sẽ hết đau.
Mục đích tập phục hồi chức năng là làm khỏe cơ và tăng dần biên độ vận động của khớp háng. Quá trình tập luyện của người bệnh phải được bác sĩ phẫu thuật phối hợp bác sĩ phục hồi chức năng hoặc điều dưỡng viên kiểm tra và hướng dẫn.
Ngay sau mổ, người bệnh có thể dùng thuốc giảm đau và bắt đầu chương trình tập luyện ngay. Khi tình trạng đau đã hết, cường độ tập sẽ được tăng dần.
Trong quá trình tập luyện, người bệnh cần ghi nhớ một số điểm quan trọng sau:
Khởi đầu khi tập từ từ và tăng dần. Đặt ra cho mình những mục tiêu cần đạt được, ví dụ như: đi bộ được 100m, bước lên và xuống cầu thang, đi dạo quanh một con phố nhỏ...
Trong quá trình luyện tập có thể xuất hiện những bất thường thì phải hỏi bác sĩ ngay.
Một số bài tập có thể giúp bệnh nhân làm khỏe cơ và giúp khớp mới linh hoạt hơn.
Tập cơ mông: bệnh nhân nằm ngửa, gồng cơ mông (ép hai mông lại gần nhau) trong vòng 5-10 giây, lặp lại 15-10 lần.
Tập gấp gối và háng: nằm ngửa, co chân mổ lên (gối gấp 40-60 độ) và giữ 10-15 giây rồi duỗi ra, lặp lại 15-20 lần.
Tập khép và dạng háng: nằm ngửa hai chân duỗi thẳng, từ từ dạng chân ra rồi khép chân vào, đổi bên, lặp đi lặp lại 15-20 lần.
Duỗi háng: nằm ngửa, hai chân co. Từ từ nâng mông lên khỏi mặt giường, giữ trong vòng 5 giây, lặp đi lặp lại trong vòng 15-20 lần.
Tập cơ tứ đầu: nằm ngửa, hai chân duỗi thẳng. Duỗi chân hết mức từng bên (gồng cơ tứ đầu) và giữ trong 5 giây, thả lỏng 5 giây rồi lặp lại. Tập trong vòng 10 phút. Nằm ngửa, kê một gối dưới khoeo, để gối gấp chừng 30-40 độ, duỗi thẳng gối từng bên, giữ 5 giây. Lặp lại 15-20 lần.
Tập khớp cổ chân: nằm ngửa, kê một gối nhỏ dưới bắt chân để gót nâng khỏi mặt giường, duỗi tối đa bàn chân giữ trong 5 giây, rồi gấp tối đa bàn chân, giữ 5 giây. Lặp lại 15-20 lần.
Chườm nóng và lạnh: chườm lạnh giúp giảm sưng nề, giảm đau. Chườm lạnh trong vòng 15-20 phút; chườm nóng giúp giãn cơ, làm tăng độ linh hoạt của khớp, thời gian chườm nóng là 15-20 phút.
Những việc nên và không nên làm?
Người bệnh phải ghi nhớ những gì được phép làm và không được phép làm, đặc biệt là trong những tháng đầu sau mổ.
Tránh nguy cơ trật khớp, người bệnh không nên: gấp đùi quá nhiều về phía bụng; xoay chân vào trong; ngồi bắt chéo chân mổ; ngồi xổm; ngồi hố xí thấp; cố cúi khom người khi đi tất, đi giầy; nằm nghiêng về phía chân lành khi ngủ...
Người bệnh nên: Ngồi ghế cao, ngồi hố xí cao, thường xuyên đặt gối giữa hai chân khi ngủ, kê một gối đủ dày giữa hai đầu gối khi nằm nghiêng, khi đi tất, giầy nên nhờ người khác hỗ trợ, giảm cân nếu thừa cân...
Một số lưu ý khác: Đi bộ đơn thuần không thay thế được các bài tập khác, chưa nên ngồi lái xe ô tô khi chưa hỏi ý kiến bác sĩ, nên được bác sĩ tư vấn khi quan hệ vợ chồng, phải khai báo bác sĩ có khớp nhân tạo khi phải tiến hành các cuộc phẫu thuật khác.

Tóm lại: Phẫu thuật thay khớp háng mang lại cho người bệnh nhiều lợi ích, cải thiện chất lượng cuộc sống rất lớn. Kết quả lâu dài phụ thuộc nhiều vào sự cố gắng tập luyện của người bệnh. Ngoài tập luyện, trong sinh hoạt hằng ngày, người bệnh cần ghi nhớ những điều nên làm và không được làm để tránh nguy cơ trật khớp háng nhân tạo. Giảm mức độ hoạt động, cố gắng giảm cân đều góp phần tăng sức bền cho khớp. Sau mổ thay khớp háng, người bệnh cơ bản có chất lượng cuộc sống như người bình thường.


Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

Thoái hóa khớp tấn công người trẻ

Anh Trương Thanh Hòa quê ở Đăk R'lấp, Đăk Nông, trồng cà phê nên quanh năm phải lao động vất vả, mang vác nặng. Bản thân anh có thói quen uống rượu và hút thuốc. Khi biết bị đau khớp, anh đã từ bỏ dần rượu và thuốc nhưng vẫn phải làm việc nặng nhọc nên bệnh ngày càng nặng thêm.
Hơn chục năm chịu đựng những cơn đau hành hạ, anh Hòa đã mua nhiều loại thuốc uống nhưng bệnh không thuyên giảm. Gần đây anh không thể đi lại như bình thường nên đến bệnh viện ở TPHCM khám.
Các bác sĩ BVĐK Tâm Trí Sài Gòn chẩn đoán anh Hòa bị hoại tử khớp háng 2 bên, cần điều trị phẫu thuật thay khớp ngay. Sau ca mổ thay khớp, sức khỏe bệnh nhân đã dần bình phục song cần theo dõi tiếp, đồng thời tập đi lại và tập vật lý trị liệu.
thoai-hoa-khop2-3365-1442030735.jpg
Sau ca phẫu thuật thay khớp, sức khỏe anh Hòa đã dần hồi phục và đang tập đi lại. Ảnh: TT.
ThS.BS Lê Văn Tư, Chuyên khoa Cơ Xương Khớp, BVĐK Tâm Trí Sài Gòn, cho biết gần đây lượng bệnh nhân mắc các bệnh liên quan đến cơ xương khớp gia tăng và trẻ hóa. Trước đây thoái hóa khớp được cho là bệnh của người cao tuổi, với nguyên nhân thường gặp là gãy cổ xương đùi. 
Đến nay, nhiều người trẻ cũng bị bệnh này, thường gặp ở nam giới có thói quen nhậu nhẹt, hút thuốc lá, thường xuyên mang vác nặng. Với phụ nữ thường gặp ở tuổi trung niên đau khớp nhiều năm sử dụng corticoid có trong tân dược hay thuốc tễ nguồn gốc không rõ ràng.
Theo bác sĩ, thoái hóa khớp là một bệnh lý liên quan đến tắc nghẽn mạch máu nuôi chỏm xương đùi. Nguyên nhân chính gây ra hoại tử chỏm xương đùi là do sự cung cấp máu nuôi đến đầu xương bị giảm sút. Có 4 cơ chế phổ biến sau:
- Thiếu máu động mạch cung cấp, thường do chấn thương gãy cổ xương đùi, trật khớp háng, gãy vỡ ổ khớp làm đứt các động mạch đến nuôi xương. Bên cạnh đó, tình trạng máu tụ và dịch viêm có thể gây chèn ép các động mạch cũng khiến lưu lượng máu đến chỏm xương đùi bị suy giảm.
- Tắc nghẽn tĩnh mạch: Thường gặp trong bệnh Legg-Perthes-Calve ở thiếu niên và một số bệnh lý của bao khớp như viêm khớp dạng thấp, viêm khớp vảy nến...
- Tắc nghẽn trong lòng mao mạch, điển hình là bệnh hồng cầu hình liềm. Một bệnh khác nữa là bệnh thợ lặn (Caisson), khi đang ở độ sâu nhất định mà trồi nhanh lên mặt nước trong máu những thợ lặn hình thành những bọt khí nitơ làm tắc các mao mạch có đường kính nhỏ.
- Có sự chèn ép các mao mạch trong ống xương, thường gặp ở nhưng người uống rượu và sử dụng corticoid dài hạn.
Những biện pháp điều trị nâng đỡ cho bệnh nhân hoại tử chỏm xương đùi chưa thay khớp nhân tạo bao gồm dùng thuốc kháng viêm giảm đau, giảm cân và chống gậy khi di chuyển, nghỉ ngơi và hạn chế vận động nặng như mang vác, chạy nhảy. Bệnh nhân cần kiêng rượu, thuốc lá và ngưng uống corticoid.
Biện pháp ghép tế bào gốc điều trị thoái hóa khớp được đánh giá là một hướng mới đầy tiềm năng, áp dụng trong giai đoạn I, II, đang nghiên cứu và chứng minh tính hiệu quả.
Với giai đoạn muộn hơn, hiện nay thay khớp háng là biện pháp duy nhất mang lại hiệu quả.