Văn phòng Diện Chẩn Sống Khỏe_ Khu nhà 102 Ngõ 95 Chùa Bộc-Đống Đa-Hà Nội _ ĐT : 0906143408

Hướng dẫn lý thuyết và thực hành cơ bản cho những quí vị thực sự yêu thích Diện Chẩn . Hãy gọi cho chúng tôi để biết lịch .

Tư vấn sức khỏe , chẩn bệnh đưa ra phác đồ miễn phí.

Hiển thị các bài đăng có nhãn BỆNH VỀ GAN MẬT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BỆNH VỀ GAN MẬT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 18 tháng 2, 2016

Tăng acid uric máu: Không chỉ gây bệnh gout

Nói đến tăng acid uric máu là người ta nghĩ ngay đến một loại bệnh hết sức phổ biến ở nam giới: bệnh gout. Nhưng, trên thực tế, tăng acid uric máu còn là yếu tố nguy cơ của rất nhiều loại bệnh còn nguy hiểm hơn nhiều.
Acid uric là gì?
Acid uric (a.uric) là sản phẩm chuyển hóa xảy ra tự nhiên trong cơ thể chúng ta. A.uric máu có nguồn gốc: nội sinh, là khi các tế bào bị chết, nhân của chúng sẽ bị phá hủy và chuyến hóa thành a.uric; ngoại sinh, xuất phát từ các loại thức ăn động vật như thịt, cá và một số con đường chuyển hóa khác.
Nồng độ a.uric máu bình thường vào khoảng 420micromol/lít ở nam giới và 360 micromol/lít ở nữ giới. Khi nồng độ vượt quá ngưỡng trên thì được gọi là tăng a.uric máu. Hàng ngày, lượng a.uric dư thừa sẽ được đào thải 80% qua nước tiểu và khoảng 20% qua đường tiêu hóa và mồ hôi.
Có rất nhiều nguyên nhân gây tăng a.uric máu nhưng tựu trung lại là do hai nhóm chính: tăng tổng hợp a.uric (ví dụ như do ăn quá nhiều thịt cá, do rối loạn chuyển hóa a.uric bẩm sinh) và giảm đào thải a.uric (ví dụ như do suy thận...).
Nguy cơ của tăng a.uric máu
Ngay từ cuối thế kỷ 19, các nhà nghiên cứu đã đặt giả thiết rằng, tăng a.uric máu có thể gây bệnh lý thận và tăng huyết áp. Tuy nhiên, vấn đề này bị xem nhẹ cho tới tận giữa thập kỷ 50 và đầu những năm 60 mới được chú ý trở lại. Từ đó tới nay, rất nhiều nghiên cứu có qui mô đã cho thấy vai trò của a.uric trong nhiều loại hình bệnh lý như tăng huyết áp, hội chứng chuyển hóa, bệnh mạch vành, bệnh mạch não, đột quỵ não và sa sút trí tuệ có nguồn gốc mạch máu, tiền sản giật, bệnh thận. Mối liên quan giữa nồng độ a.uric máu với bệnh lý tim mạch không chỉ xảy ra ở ngưỡng tăng thực sự (khi nồng độ a.uric máu vượt quá ngưỡng nêu trên) mà còn xảy ra ở nồng độ bình thường tới ngưỡng cao (từ 310 - 330micromol/lít).
Acid uric tăng cao cũng là yếu tố có giá trị tiên lượng xuất hiện các biến cố tim mạch ở bệnh nhân suy tim, bệnh lý mạch vành.
Người ta thấy rằng, tỷ  lệ  bệnh nhân người lớn tăng huyết áp tiên phát không được điều trị có tăng a.uric máu chiếm từ 25-60% và tỷ lệ này xấp xỉ 90% ở các trường hợp tăng huyết áp tuổi thanh thiếu niên. Thêm nữa, những người có tăng a.uric máu mà chưa có tăng huyết áp thì tăng a.uric máu là một yếu tố tiên đoán tăng huyết áp sẽ xảy ra ở những đối tượng này. Thuốc làm hạ a.uric máu nhóm ức chế men xanthine oxidase giúp làm hạ huyết áp mới khởi phát ở tuổi thanh thiếu niên.
Với các bệnh lý mạch máu, nồng độ a.uric tăng cao ảnh hưởng đến chức năng của lớp tế bào nội mạc mạch máu, kích thích giải phóng các gốc tự do, hoạt hóa các chất trung gian của quá trình viêm, gây tăng kết tụ tiểu cầu, tạo các vi huyết khối, các phản ứng viêm mạn tính và về lâu dài làm tổn thương thành mạch. A.uric tăng cao cũng là yếu tố có giá trị tiên lượng xuất hiện các biến cố tim mạch ở bệnh nhân suy tim, bệnh lý mạch vành mặc dù vẫn chưa phân định được việc tăng a.uric ở những bệnh nhân này là nguyên nhân hay chỉ là hậu quả của suy giảm chức năng thận ở các bệnh nhân suy tim.
Với các bệnh lý thận, các nghiên cứu thực nghiệm trên động vật và thử nghiệm lâm sàng đều gợi ý rằng việc tăng a.uric có thể dẫn tới bệnh thận mà không do lắng đọng tinh thể urate. Tăng a.uric có ảnh hưởng đến chức năng thận thông qua việc gây tổn thương các mạch máu thận, làm mất cơ chế tự điều hòa của thận, đặc biệt ở các bệnh nhân đái tháo đường. Điều trị làm giảm nồng độ a.uric máu giúp làm chậm quá trình tiến triển của bệnh lý thận, nhất là ở những bệnh nhân có lượng a.uric máu rất cao.
Tăng acid uric máu cũng đặc biệt có liên quan đến các bệnh lý mạch ngoại vi.
Ngày càng gia tăng các bằng chứng cho thấy a.uric có thể  đóng góp vào việc xuất hiện các rối loạn trong hội chứng chuyển hóa. Trước đây, người ta cho rằng, nồng độ acid uric tăng cao trong hội chứng chuyển hóa là do cường insulin, vì insulin làm giảm tiết acid uric ở thận. Tuy nhiên, thực tế trong rất nhiều trường hợp,  tăng acid uric lại xuất hiện trước cường insulin, béo phì và đái tháo đường. Ở các bệnh nhân đái tháo đường có tăng a.uric thì tỷ lệ biến chứng và tử vong cao hơn ở nhóm bệnh nhân đái tháo đường không có tăng a.uric.
Tăng a.uric máu cũng đặc biệt có liên quan đến các bệnh lý mạch ngoại vi, mạch cảnh, tiền sản giật và chứng sa sút trí tuệ có nguồn gốc mạch máu. Các nghiên cứu cũng đã chứng minh được việc điều trị hạ a.uric góp phần làm ngăn ngừa hoặc giảm tiến triển của các bệnh lý này trên thực nghiệm và lâm sàng.
Thay lời kết
Mặc dù còn có những vấn đề tranh cãi và cần làm sáng tỏ thêm, nhưng cho tới nay, nhìn chung, phần nhiều các ý kiến đều thống nhất về vai trò của a.uric trong các bệnh lý huyết áp, tim mạch, đái tháo đường, bệnh lý thận, tiền sản giật và việc kiểm soát nồng độ a.uric máu là hết sức cần thiết thông qua một chế độ ăn uống hợp lý, một lối sống lành mạnh và điều trị bằng các phác đồ hạ a.uric máu nếu cần.




Thứ Ba, 16 tháng 2, 2016

Những bệnh "ẩn nấp" sau mùi hôi của hơi thở

Triệu chứng hôi miệng cũng có thể là bạn đồng hành của nhiều bệnh như ung thư phổi, suy tim hay thậm chí là bệnh béo phì hay suy thận… Tạp chí Y học Mỹ xuất bản ngày 17 tháng 4 năm 2014 đã có bài viết tóm tắt 5 loại bệnh có thể ẩn nấp sau mùi hôi của hơi thở. 

1. Bệnh tai mũi họng

Các bệnh tai mũi họng như viêm xoang, viêm amidan, viêm họng là bạn đồng hành của chứng hôi miệng. Chúng tạo ra nhiều vi khuẩn hơn mức thông thường ở trong miệng khiến cho miệng trở nên nặng mùi. 

Các nhiễm trùng amiđan hoặc các trường hợp viêm họng do khuẩn cầu chuỗi có thể dẫn tới sỏi amiđan phát ra mùi hôi. Điều này cũng xảy ra tương tự với bệnh viêm phế quản và các bệnh viêm đường hô hấp trên. 

Những bệnh "ẩn nấp" sau mùi hôi của hơi thở 1Ảnh minh họa

2. Bệnh lý đường ruột hay dạ dày

Bạn cũng bị hôi miệng nếu bạn bị mắc chứng táo bón hoặc những vấn đề liên quan đến dạ dày. Những người bị chứng ợ nóng, trào ngược acid dạ dày cũng khiến hơi thở có mùi acid, chua như dấm. 
 
3. Bệnh béo phì

Các nhà nghiên cứu Los Angeles, California phát hiện thấy rằng hơi thở có thể chỉ ra xác suất một người bị nguy cơ béo phì. Sau khi phân tích 792 người có hơi thở có mùi họ nhận thấy rằng bầu không khí nơi họ sinh sống có nồng độ metan và hydro cao gấp đôi những nơi khác, tỷ lệ chỉ số khối cơ thể cũng như nồng độ chất béo trong cơ thể cũng cao hơn.

4. Bệnh tiểu đường

Nếu như hơi thở của bạn có mùi như vị trái cây hoặc như mùi sơn móng tay, có nghĩa là bạn đang có vấn đề nhiễm ceton acid tiểu đường. 

Khi cơ thể không thể sử dụng đường như một nguồn năng lượng, chỉ có chất béo là “nhiên liệu” thì trong quá trình phân giải lipid, chất thải sẽ tích tụ trong cơ thể thông qua hệ thống hô hấp, lúc này hơi thở sẽ phảng phất một mùi hôi.
Những bệnh "ẩn nấp" sau mùi hôi của hơi thở 2Ảnh minh họa
5. Suy thận

Bệnh suy thận mãn tính lại khiến hơi thở có mùi cá ươn. Vai trờ của thận là loại bỏ chất thải từ máu, khi thận gặp vấn đề nó không thể loại bỏ tất cả các độc tố ra khỏi máu. Chất thải tích tụ trong cơ thể, và phát tán một phần thông qua hệ hô hấp khiến hơi thở có mùi.

6. Ung thư 

Trong một số rất ít trường hợp, hôi miệng có thể là một trong những dấu hiệu cảnh báo ung thư ở mũi, tai, cổ hoặc họng, lúc này, miệng có mùi chua gắt rất khó ngửi. 

Một số động vật có thể ngửi thấy một căn bệnh cụ thể, dựa trên nguyên tắc này, các nhà nghiên cứu đã phát triển một công nghệ "mũi điện tử" mà tách các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi trong mẫu hơi thở. 

Với kỹ thuật “mũi điện tử”, các nhà nghiên cứu đã có thể xác định chính xác hơn các bệnh nhân bị ung thư phổi, và hiệu suất chính xác khoảng 90%.



Chủ Nhật, 3 tháng 1, 2016

U tủy sống có thể trị khỏi bằng phẫu thuật

Đa số trường hợp u tủy đều phải mổ để giải quyết khối u và giải phóng sự chèn ép.

Thông thường các loại u tân sinh phát triển không ngừng, ngày càng to ra, chèn ép nhiều vào tủy và hệ thống thần kinh nên buộc phải mổ. 
Một số loại không phải là u tân sinh nhưng cũng phát triển to ra, chẳng hạn như nang thượng bì hoặc u quái, u mỡ… khi đã có triệu chứng cũng phải mổ lấy u. 
Chỉ có các u lympho (lymphoma) đáp ứng nhạy với hóa trị và u tế bào mầm (germinoma) nhạy với tia xạ, còn hầu hết các trường hợp khác đều phải giải quyết bằng phẫu thuật.
Đối với u ở màng cứng ngoài tủy, việc mổ lấy u khá dễ dàng vì chúng thường chỉ dính một phần nhỏ vào các dây thần kinh hoặc màng tủy. 
Những trường hợp u màng não tủy dính vào màng tủy ở phía trước, có thể dễ dàng cắt bỏ màng tủy để tránh tái phát, song việc khâu kín nó để tránh dò dịch não tủy ra ngoài rất khó khăn. 
Hiện nay, với xu hướng phẫu thuật ít xâm lấn, nhiều tác giả chủ trương chỉ bóc tách cơ một bên, cắt một bên bản sống và sau đó cắt u ra từng mảnh nhỏ để lấy ra khối u trong màng cứng. Nhờ vậy, cuộc mổ trở nên nhẹ nhàng hơn.
chua-u-tuy-song-bang-phau-thuat
Khối u tủy sống sau khi được phẫu thuật lấy ra. Ảnh: Tiến sĩ, bác sĩ Võ Xuân Sơn.
Trong các trường hợp u ngoài màng cứng, việc lấy hết khối u thường khó khăn hơn vì chúng có thể ăn lan ra nhiều hướng khác nhau, hủy xương nhiều, chảy máu nhiều, đặc biệt khi xương bị hủy thì phải nạo sạch, ghép xương rồi cố định nẹp vít… 
Cuộc mổ này khá nặng nề. Hơn nữa những ca u ngoài màng cứng thường là di căn, khả năng hồi phục kém, thời gian sống còn lại không dài. 
Chính vì vậy bác sĩ phải cân nhắc có nên mổ không. Nếu thấy phẫu thuật không có lợi, nhiều bác sĩ chỉ định hóa trị, xạ trị, dù hầu như không có tác dụng gì mà chỉ giúp người bệnh không cảm thấy bị bỏ rơi.
Đối với các trường hợp u nội tủy, trước đây người ta cho rằng mổ chỉ nhằm giải ép chứ không thể lấy hết khối u. Phần xử lý khối u được giao cho khâu xạ trị. Tuy nhiên càng về sau các bác sĩ nhận thấy xạ trị không những không diệt được khối u mà còn diệt cả phần tủy không bị bệnh, góp phần sinh ra các u khác.
Gần đây vai trò của phẫu thuật trong điều trị u nội tủy mới được xác định một cách đúng đắn. Với sự phát triển của các phương tiện hỗ trợ phẫu thuật và chẩn đoán, việc mổ lấy hết khối u trong tủy không còn là "chuyện viễn vông". 
Sau nhiều ca mổ lấy hết u, người ta mới nhận ra rằng đối với u nội tủy có độ ác tính thấp, chỉ cần mổ lấy hết u là triệt để, không cần xạ trị hay hóa trị, khả năng tái phát rất thấp.
Khó khăn lớn nhất trong phẫu thuật u nội tủy là phải đảm bảo mổ lấy hết u mà không làm hư tủy. Đây thực sự là một thách thức rất lớn cho các phẫu thuật viên thần kinh. 
Hiện nay, số phẫu thuật viên còn sống trên thế giới mổ thành công trên 100 trường hợp u nội tủy chỉ đếm được trên đầu ngón tay. 
Tuy nhiên, số bác sĩ đã từng mổ u nội tủy thì nhiều hơn, mỗi người mổ một hoặc vài ca và chỉ cần một trong số các ca đó thành công thực sự (nghĩa là lấy hết u mà bệnh nhân không xấu hơn) cũng xếp vào hàng “top” rồi.
Ngoài tay nghề cùa bác sĩ, sự thành công của ca mổ lấy toàn bộ khối u nội tủy phụ thuộc một phần vào phương tiện. 
Đầu tiên cần phả có kính hiển vi phẫu thuật. Bác sĩ sẽ không thể thành công nếu mổ bằng mắt thường bởi để bóc tách được khối u ra khỏi tủy cần phải phóng đại lên cỡ 16 đến 20 lần. 
Hiện nay một số bác sĩ Việt nam có thể giải quyết khá tốt những trường hợp u nội tủy. Các chuyên gia kỳ vọng trong tương lai, nước ta sẽ trở thành một trong một số ít nơi trên thế giới điều trị tốt những khối u này.
Ngoài các trường hợp nêu trên còn có một số ca khá đặc biệt là những u hình quả tạ đôi. Những khối u này thường có một phần nhỏ nàm trong ống sống, chèn ép vào tủy, phần u lớn hơn nằm ở ngoài ống sống, lan vào trong bụng hoặc ngực. 
Trước đây người ta phải mổ hai lần để lấy hết các khối u này. Tuy nhiên việc mổ nhiều lần không phải lúc nào cũng suôn sẻ vì trong nhiều trường hợp, khâu cầm máu tại vị trí khối u được cắt ở lần đầu rất khó khăn.
Với những trường hợp này, yêu cầu phải mổ lấy hết khối u trong một cuộc phẫu thuật là rất bức bách. Hiện nay có một kỹ thuật đáp ứng được yêu cầu này đó là một đường mổ được thực hiện từ phía sau và luồn ra phía trước để lấy hết khối u dù nó nằm trong lồng ngực hay bụng. 
Hiện tại Việt Nam đã giải quyết thành công những khối u này mang lại hiệu quả điều trị cao không khác gì các trung tâm lớn trên thế giới.
Tóm lại, ngoài một số rất ít các trường hợp đặc biệt, đa số khối u tủy đều phải cần đến một cuộc mổ để giải quyết u, giải phóng sự chèn ép. Cuộc mổ sẽ dễ dàng nếu u ở trong màng cứng và ngoài màng tủy, sẽ khó điều trị hơn nếu u ngoài màng cứng, đặc biệt khó khăn nếu là u nội tủy



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Dấu hiệu cảnh báo bệnh đau nửa đầu nguy hiểm

Đừng bỏ qua các triệu chứng đau nhói một bên đầu, dị ứng với ánh sáng và tiếng ồn, nôn nao, trầm cảm... vì có thể bạn đã mắc chứng đau nửa đầu.

Đau nửa đầu (migraine) hay còn gọi thiên đầu thống, là những cơn đau ở một bên đầu đến bất thình lình như trời giáng, cảm giác da đầu căng và rát như bị bỏng. Các triệu chứng đi kèm như ù tai, mờ mắt, nhìn ánh đèn chói lại càng đau.
Tiếp đến là xuất hiện cơn buồn nôn, dù uống thuốc giảm đau nhưng vẫn chẳng thấy ăn thua. Gặp tiếng ồn của xe cộ hay máy móc là đầu như muốn nổ tung.
dau-hieu-canh-bao-benh-dau-nua-dau-nguy-hiem
Ảnh: Boldsky.
Đau nửa đầu dễ đánh lừa người bệnh bởi nó gần giống như cơn đau đầu bình thường. Dưới đây là những dấu hiệu cảnh báo bệnh đau nửa đầu theo Boldsky.
Đau nhói một bên đầu
Nếu bạn thường bị đau chỉ một bên đầu, cơn đau ngày càng nhức nhối sau đó lan ra cả vùng đầu, cổ thì đó là một dấu hiệu đầu tiên cảnh báo bệnh.
Choáng váng với ánh sáng và tiếng ồn
Nếu bạn "dị ứng" với ánh sáng và tiếng ồn thì chắc chắn đã mắc bệnh đau nửa đầu. Cảm thấy nhức mắt mỗi khi thấy ánh sáng, đầu óc như muốn nổ tung khi có tiếng ồn, nên đến gặp bác sĩ để được chẩn đoán bệnh.
Cảm giác bất thường
Người bị đau nửa đầu sẽ gặp những biểu hiện thoáng qua liên quan đến thị giác như ánh sáng lập lờ, vết hoặc đường thẳng. Biểu hiện thoáng qua kéo dài từ 5 đến 60 phút trước khi xảy ra cơn đau đầu.
Trầm cảm, cáu kỉnh hoặc kích động
Thay đổi tâm trạng là một trong những dấu hiệu của chứng đau nửa đầu. Một số bệnh nhân cảm thấy chán nản hoặc đột nhiên xuống tinh thần không có lý do, trong khi một vài người khác lại cảm thấy hưng phấn một cách bất thường.
Giấc ngủ kém
Thức dậy mệt mỏi hoặc gặp khó khăn khi đi vào giấc ngủ là những vấn đề phổ biến thường gặp ở bệnh nhân bị mắc bệnh đau nửa đầu. Các nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa thiếu ngủ và sự tăng cường tần số, cường độ của cơn đau nửa đầu. Khi cơn đau nửa đầu tấn công, rất khó khăn để có một giấc ngủ ngon.
Ngạt mũi hoặc chảy nước mắt
Một số người mắc đau nửa đầu có triệu chứng xoang, ngạt mũi, chảy nước mũi trong, sụp mí mắt hoặc chảy nước mắt. Một nghiên cứu cho thấy những người đau đầu do xoang thì 90% mắc đau nửa đầu.
Nôn hoặc buồn nôn
Theo một nghiên cứu ở Mỹ, khoảng 73% bệnh nhân có triệu chứng buồn nôn và 29% có nôn. Những người thường xuyên có cảm giác buồn nôn khi đau đầu liên quan đến cơn đau nửa đầu nặng hơn người không có triệu chứng này.
Giải pháp phòng ngừa bệnh đau nửa đầu
Hiện nay điều trị đau nửa đầu bao gồm điều trị cơn đau cấp và điều trị dự phòng. Trong mọi trường hợp đau nửa đầu, biện pháp cần thiết là để cho cơ thể và tinh thần được nghỉ ngơi. Người bệnh không nên dùng thuốc giảm đau liên tục trong thời gian dài, vì có thể gây ra tác dụng phụ. Nên tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn và điều trị cụ thể.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2015

Triệu chứng và ảnh hưởng của viêm khớp dạng thấp

Triệu chứng
Viêm khớp dạng thấp ảnh hưởng tới các khớp. Nó khiến chúng bị viêm. Các dấu hiệu điển hình là:
- Cứng khớp: Khớp bị cứng gây khó khăn khi cử động. Tình trạng này thường xảy ra vào buổi sáng. Mặc dù các dạng khác của viêm khớp cũng gây cứng khớp vào buổi sáng, nhưng với viêm khớp dạng thấp, thời gian cứng khớp kéo dài hàng giờ (đôi khi tới vài giờ).
- Sưng: Các chất dịch xuất hiện trong khớp và khiến nó sưng lên.
- Đau: Viêm trong khớp khiến nó trở nên nhạy cảm và yếu. Dần dần, có thể gây tổn thương và đau khớp.
- Đỏ và nóng: vùng da quanh khớp có thể nóng hơn và hồng hoặc đỏ hơn vùng da khác. Viêm khớp dạng thấp thường ảnh hưởng ở khớp tay nhưng cũng có thể xảy ra ở bất cứ khớp nào, bao gồm đầu gối, cổ tay, cổ, vai, khuỷu tay, bàn chân, hông, thậm chí là quai hàm. Thường có một tình trạng đối xứng - các khớp giống nhau ở hai bên cơ thể như khớp cổ tay hoặc khớp háng.
 Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Ảnh hưởng của viêm khớp dạng thấp lên cơ thể
Viêm khớp dạng thấp có thể gây ra những ảnh hưởng ngoài khớp xương. Bạn có thể cảm thấy:
- Mệt mỏi
- Ốm yếu
- Chán ăn dẫn tới sút cân
- Đau cơ
Các triệu chứng có vẻ giống với bệnh cúm nhưng những triệu chứng này thường ít căng thẳng và kéo dài hơn.
Một số người bị viêm khớp dạng thấp cũng có nốt dạng thấp, là những chỗ sưng lên dưới da, thường xuất hiện nhiều nhất trên khuỷu tay. Đôi khi chúng gây đau.
Viêm khớp dạng thấp có thể ảnh hưởng tới phổi: Viêm có thể gây tổn hại phổi hoặc màng phổi. Điều này có thể không gây ra các triệu chứng. Nếu bạn bị khó thở, bác sĩ có thể kê thuốc giảm viêm trong phổi.
Tương tự, nó có thể gây viêm màng quanh tim. Bạn có thể không nhận ra các triệu chứng. Nếu cảm thấy khó thở hoặc đau ngực, bạn nên đi khám bác sĩ.
Viêm khớp dạng thấp còn có thể ảnh hưởng tới dây thanh âm, gây ra tình trạng khản giọng. Ở một số người bị viêm khớp dạng thấp (khoảng dưới 5%), bệnh này có thể gây đỏ, đau hoặc khô mắt.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2015

Đau tê từ bụng xuống chân coi chừng bị hẹp ống sống ngực

Bệnh hẹp ống sống ngực bắt nguồn từ tình trạng cốt hóa dây chằng vàng nằm ở phía sau tủy. Dây chằng này nối kết các cấu trúc xương ở phía sau của ống sống lại với nhau tạo nên thành sau của ống sống. Khi dây chằng vàng hóa xương và phì đại lên sẽ chèn ép vào tủy sống, có thể để lại hậu quả rất nghiêm trọng. Hiện vẫn chưa rõ nguyên nhân dây chằng vàng bị cốt hóa và thường xảy ra ở vùng cột sống ngực.
dau-te-vung-bung-duoi-coi-chung-bihep-ong-song-nguc
Vị trí dây chằng vàng trong ống sống
Bệnh hẹp ống sống ngực do cốt hóa dây chằng vàng thường gây đau kèm theo các triệu chứng của chèn ép tủy ngực, bao gồm tê hoặc giảm cảm giác từ vùng bụng trở xuống, yếu hai chân. Một số trường hợp biểu hiện bằng hội chứng chùm đuôi ngựa, tê, giảm hoặc mất cảm giác vùng hội âm, xung quanh cơ quan sinh dục, rối loại tiêu tiểu. Có bệnh nhân còn bị đau vùng cột sống ngực, lan sang một bên sườn hoặc hông, đau bỏng rát một vùng da sườn hoặc hông. Tình trạng nặng có thể bị yếu, liệt một hoặc hai chân.
Để xác định bệnh, bắt buộc phải có chẩn đoán hình ảnh là CTScan. Cộng hưởng từ và X-quang cột sống cũng được chỉ định để xác định tình trạng tủy, loại trừ khả năng bệnh viêm cột sống dính khớp, một bệnh lý có triệu chứng tương tự hẹp ống sống ngực nhưng lại khác hoàn toàn về nguyên lý bệnh sinh cũng như cách thức điều trị.
Với người bị bệnh hẹp ống sống ngực, quan sát trên ảnh chụp cột sống sẽ thấy tại vị trí dây chằng vàng đã được thay thế bằng mảnh xương, chúng làm cho đường kính ống sống nhỏ lại, chèn ép tủy. Trong nhiều trường hợp, tủy đã bị nhũn, hư mất một vùng. Những trường hợp này, thường để lại di chứng vĩnh viễn.
Việc điều trị tùy thuộc vào từng giai đoạn và triệu chứng của bệnh. Nếu chỉ có đau, chỉ cần uống thuốc giảm đau và tập vật lý trị liệu. Việc dùng thuốc giảm đau có thể phải kéo dài hoặc lặp đi lặp lại. Một số trường hợp đau kéo dài, ngay cả sau khi đã mổ thì phải áp dụng các biện pháp chống đau xâm lấn nhiều như hủy hạch, cắt sừng tủy sống, đặt điện cực…
Khi có triệu chứng của chèn ép tủy, bắt buộc phải mổ lấy hết những chỗ dây chằng vàng phì đại và cốt hóa, giải phóng mọi chèn ép tác động vào tủy sống. Đây là một cuộc phẫu thuật chứa đựng nhiều nguy cơ, khả năng thương tổn thần kinh do mổ rất cao. 
Ngoài đôi tay khéo léo và tính kiên nhẫn của phẫu thuật viên thì trang thiết bị, đặc biệt là máy khoan mài cao tốc với mũi khoan kim cương nhiều kích cỡ phù hợp đóng vai trò quyết định sự thành bại của ca mổ. Nhiều trường hợp, các mảnh cốt hóa dính chặt vào màng tủy. 
Các thao tác mổ đều có thể tác động trực tiếp vào tủy sống. Ở vùng này, tủy sống khá nghèo máu nuôi nên tỷ lệ biến chứng sau mổ rất lớn.
Hầu hết trường hợp bị hẹp ống sống ngực phải điều trị bằng phẫu thuật. Nhất là khi đã có chỉ định mổ thường không còn cách giải quyết nào khác. Nếu không phẫu thuật, người bệnh nhiều khả năng bị liệt, rối loạn tiêu tiểu. 
Cho đến nay người ta vẫn chưa thể giải thích nguyên nhân dây chằng bị cốt hóa, tại sao cùng một cộng đồng dân cư, cá nhân này bị cốt hóa mà người khác thì không. Do đó hiện chưa có khuyến cáo về cách phòng ngừa bệnh này. Có điều may mắn là tần suất của bệnh này thấp, ít gặp, không phổ biến như thoát vị đĩa đệm hay hẹp ống sống thắt lưng.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thứ Hai, 14 tháng 12, 2015

Chớ xem thường ho về đêm

Thời tiết những ngày đầu đông đang có những dấu hiệu thay đổi nhiệt độ thất thường, ngày ấm đêm lạnh, là điều kiện cho các chứng bệnh về hô hấp phát triển, trong đó có chứng ho về đêm khiến người bệnh mất ngủ, mệt mỏi, ảnh hưởng đến việc học tập và làm việc...
Ho là một triệu chứng hay gặp, nhất là khi thời tiết thay đổi từ nóng sang lạnh, hít phải nhiều bụi, khói, khói bếp, khói lò... Ho là một phản xạ sinh lý có tính bảo vệ cơ thể nhằm tống ra khỏi đường hô hấp các chất dịch, đàm do phế quản hay phổi tiết ra hoặc các dị vật từ ngoài lọt vào như: thức ăn, bụi... Do đó, ho được coi là một cơ chế bảo vệ bộ máy hô hấp. Ho không phải là bệnh mà là triệu chứng của nhiều bệnh.
Ho về đêm chỉ tình trạng không ho vào ban ngày, nhưng cứ đến đêm lại bị ho, có thể ho từng cơn và ho dai dẳng, liên tục. Nguyên nhân và triệu chứng của chứng ho về đêm ở trẻ em và người lớn thể hiện như:
 Khi bé bị ho, cần thường xuyên vệ sinh mũi họng cho bé.
Khi bé bị ho, cần thường xuyên vệ sinh mũi họng cho bé.
Ho về đêm ở trẻ em
Nhiều bé không ho vào ban ngày vì thời điểm này bé đang ở tư thế vận động, các chất nhầy tiết thoát ra ngoài một cách dễ dàng. Nhưng ban đêm, khi ngủ, các chất nhày ứ đọng trong cổ gây kích thích ho. 
Chính đờm nhớt sẽ làm bé nghẹt thở, khó chịu không ngủ được và quấy khóc suốt đêm. Bé có thể đau bụng, ho đỏ mặt và cong người vì khi ho, các cơ ở bụng co lại, đẩy cơ hoành lên, tống đờm ra khỏi cổ. Nếu đột ngột thấy trẻ ho sặc sụa, không bị sốt nhưng khó thở, mặt tái đi thì có thể do trẻ đã bị một dị vật vào đường hô hấp.
Trẻ ho về đêm cũng có thể do bị cảm lạnh, bị viêm mũi xoang nên đờm nhầy từ mũi xoang chảy xuống họng kích thích gây ho khi ngủ. Trẻ bị hen cũng hay ho về đêm do đường thở có khuynh hướng tăng nhạy cảm, dễ kích ứng về đêm. Ở những trẻ hen, cơn ho dài và dày khiến trẻ mệt mỏi. Khi trẻ ho nhiều sẽ kích thích phản xạ hầu họng gây nôn trớ.
Với các bé bị ho về đêm hoặc ho lúc ngủ trưa, sặc từng cơn dẫn đến nôn trớ, đây là triệu chứng của ho do trào ngược dạ dày – thực quản. Trẻ bị chứng trào ngược, van dạ dày không tốt, vì vậy, thức ăn và dịch tiết trào ngược lên đường hô hấp dễ gây viêm đường hô hấp. 
Ho thường xảy ra với các bé hay ăn uống sát giờ đi ngủ, thức ăn không kịp tiêu hóa cùng lượng dịch vị tiết ra nhiều hơn trong giấc ngủ, gây ứ, trướng dạ dày. Sau một thời gian dài ăn uống đêm liên tục, các cơ của bé suy yếu, không khép kín được miệng trên của dạ dày, tạo đều kiện cho các chất dịch ứ trong dạ dày trào ngược lên thực quản, rỉ ra họng, tràn vào thanh quản gây ho sặc từng cơn.
Chăm sóc bé bị ho đêm
Đa số khi thấy con bị ho đêm, các bố mẹ thường áp dụng một số bài thuốc dân gian để giúp con bớt ho. Có thể hấp mật ong với quất, mật ong với lá húng chanh, lá hẹ... chắt lấy nước cho con uống ngày 3 - 4 lần. Những cách này giúp cho bé giảm ho hiệu quả và lành tính. Cần thường xuyên vệ sinh mũi họng cho bé.
Bố mẹ cũng cần hạn chế cho con ăn uống sát giờ đi ngủ. Tốt nhất, bé nên ăn uống trước khi ngủ 1 giờ. Hạn chế cho bé ăn các loại thức ăn kích thích ho nhiều hơn như tôm, cua, ghẹ... Trước khi ngủ, hãy cho con uống 1 thìa mật ong ấm giúp con hạn chế cơn ho, làm cơn ho dịu đi và giúp con ngủ ngon hơn. Lưu ý không dùng mật ong cho bé dưới 1 tuổi.
Hãy kê cao gối cho con ngủ, đầu và vai cao hơn thân, ngăn đờm nhớt hay nước mũi ứ lại ở họng. Hãy giữ ấm cho con khi ngủ, không hở bụng, hở tay dễ khiến con bị nhiễm lạnh và ho nhiều hơn. Tránh để trẻ tiếp xúc với khói xe cộ, khói thuốc lá và bụi, giữ vệ sinh mũi họng cho bé và môi trường sống.
Ho đêm ở người lớn
Ban ngày có khi chỉ ho húng hắng chốc nhát, không có dấu hiệu của cúm hay viêm họng, nhưng khi ngủ trưa hoặc ban đêm, bạn lại bị ho, thậm chí ngứa họng phải khậm khoạc và ho dai dẳng, liên tục. Tình trạng này diễn ra thường xuyên sẽ  ảnh hưởng đến giấc ngủ, khiến bạn khó chịu, mệt mỏi và dễ cáu kỉnh, hiệu suất làm việc sẽ bị ảnh hưởng. Ho về đêm ở người lớn có thể do các yếu tố sau:
Do hen suyễn: Hầu hết những người bị bệnh hen suyễn đều có thể gặp phải các vấn đề hô hấp như ho khan. Vì vậy, dấu hiệu ho về đêm cũng có thể là triệu chứng ban đầu của bệnh hen suyễn. Những triệu chứng của hen suyễn xuất hiện và biến mất phụ thuộc vào hoạt động và yếu tố tác động. 
Những triệu chứng đầu tiên thường là ho và thở rít, các triệu chứng tái đi, tái lại và thường nặng về đêm, khi gắng sức hoặc gặp lạnh. Nhiễm lạnh, cảm cúm hoặc nhiễm trùng đường hô hấp có thể gây bùng phát bệnh hen suyễn, khi đó, người bệnh cảm thấy khó thở, thở rít, ho tăng, khạc đờm tăng, nặng ngực...
Viêm xoang: Khi bị viêm xoang, các xoang bị viêm sẽ bị tắc, bị ngạt mũi, các chất nhày chảy xuống mặt sau của cổ họng. Vào ban ngày, các dịch nhày này được người bệnh xì ra hoặc tự trôi xuống đường tiêu hóa. Nhưng về ban đêm, dịch nhày dễ ứ lại nơi cổ họng và gây ho. Chứng nghẹt mũi do viêm xoang khiến người bệnh khi ngủ dễ phải thở bằng miệng, do vậy, họng rất dễ khô, rát và bị ho về đêm.
Trào ngược axit: Bệnh trào ngược axit (hay còn gọi là GERD) cũng gây ho. Khi nằm xuống, các axit gây khó tiêu và ợ nóng trong dạ dày có thể trôi ngược lên phổi dẫn đến ho. Nếu nguyên nhân gây ho và khó chịu về ban đêm đã được xác định thì hãy cố gắng ăn ít hơn vào bữa tối, khi ngủ nên gối cao đầu, việc trào ngược sẽ giảm đi và sẽ bớt ho.
Với tình trạng bị ho đêm kéo dài hơn 5 ngày (kể cả trẻ con và người lớn), kèm theo các triệu chứng như sổ mũi, ho sâu, khó thở, đau bụng..., người bệnh cần đi khám chuyên khoa để được dùng thuốc và tư vấn cách trị bệnh hiệu quả, không được tự ý dùng thuốc khi chưa có chỉ định của thầy thuốc.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2015

Dự phòng thiếu vitamin D cho trẻ như thế nào?

Vitamin D được biết đến như một liệu pháp tối ưu cho trẻ còi xương, suy dinh dưỡng. Song không phải lúc nào, không phải bà mẹ nào cũng hiểu thực sự được cách sử dụng vitamin D. Vậy bổ sung thế nào để trẻ không bị thiếu vitamin D? Với người mẹ đang mang thai: phải ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng để tạo nguồn sữa tốt cho con, chú ý tới nguồn thức ăn giàu vitamin Dnhư gan, trứng, cá biển; có thể uống thêm dầu cá, vitamin D phối hợp với viên sắt để phòng thiếu máu đối với trẻ.
Đối với trẻ nhỏ: phải cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong vòng 4 - 6 tháng đầu, nếu đến tuổi ăn dặm thì chú ý khẩu phần ăn đa dạng, đảm bảo đủ các chất muối khoáng và vitamin cho cơ thể.
Dự phòng thiếu vitamin D cho trẻ như thế nào? 1
Ảnh minh họa (nguồn Internet)
Với trẻ không có sữa mẹ, trẻ nhẹ cân, thiếu tháng: trẻ phải được cung cấp vitamin D ngay từ tuần thứ 2 sau khi sinh, cần cung cấp đầy đủ và liên tục trong vòng một năm đầu sẽ tránh được những trở ngại cho cấu tạo bộ xương và răng.
Chú ý: cho trẻ ăn những loại thức ăn giàu vitamin D như gan, lòng đỏ trứng gà, bơ. Mỗi buổi sáng trước 9 giờ, cho trẻ ra ngoài trời khoảng 10 – 15phút để trẻ tắm nắng, nhưng cũng không nên cho trẻ tắm nắng quá lâu (với trẻ dưới 1 tuổi) còn với trẻ trên 1 tuổi cần tắm nắng ngày hai lần; phải luôn giữ một chế độ vệ sinh phòng bệnh tốt để tăng cường sức đề kháng cho cơ thể, phòng tránh các bệnh nhiễm trùng. Khi dùng bổ sung vitamin D hay calci nhất thiết phải có ý kiến của bác sĩ, không nên tự ý bổ sung để tránh những hậu quả không đáng có.


Thứ Năm, 29 tháng 10, 2015

Bài thuốc trị đau bụng sau sinh

Theo y học cổ truyền, nguyên nhân khiến sản phụ đau bụng sau sinh thường do huyết thiếu, khí nhược, huyết ứ, do hàn (lạnh). Xin giới thiệu một số bài thuốc có tác dụng bổ khí huyết, thuận khí hành trệ, ôn trung tán hàn, hoạt huyết, giảm đau. Tùy từng trường hợp mà áp dụng cụ thể:
Đau bụng sau khi sinh do lạnh: Dùng một trong các bài thuốc sau:
Bài 1: Gừng 3g, tiêu sơn tra 30g, đường đỏ 30g. Tất cả cho vào chén chế nước sôi vào, đậy nắp ngâm khoảng 10 phút là dùng được.
Bài thuốc trị đau bụng sau sinh
Bài thuốc trị đau bụng sau sinh
Gừng, sơn tra, đường đỏ là những vị thuốc chữa đau bụng sau sinh.
Bài 2: Gừng sấy, xuyên khung, mỗi thứ 3g, đương quy, đào nhân mỗi thứ 9g. Tất cả sắc lấy nước uống, mỗi ngày 1 thang, mỗi thang chia uống làm 2 lần.
Đau bụng sau khi sinh do khí huyết hư: Dùng bài thuốc:
Gừng, đương quy, mỗi vị 15g, thịt dê 250g. Cách làm: Thịt dê rửa sạch, thái miếng; đương quy, gừng, dùng vải thưa túm lại để chung với thịt dê, cho vào nồi, thêm 500ml nước, đun nhỏ nấu lửa cho đến khi thịt mềm, vớt bỏ thuốc, nêm gia vị vừa đủ. Mỗi ngày ăn 1 lần, ăn liên tiếp 4 - 5 ngày. Công dụng: Làm ấm bụng, tán hàn, hoạt huyết, giảm đau. Có thể dùng kết hợp ngải cứu sao khô, bọc vào túi vài để chườm nóng vào bụng để giảm đau.
Đau bụng sau sinh đồ huyết ứ: Dùng một trong các bài thuốc sau:
Bài 1: Cây gai 120g, thái nhỏ, dùng rượu sao nóng, lấy vải gói lại chườm lên bụng, ngày làm 2 lần, dùng cho sản phụ bị đau bụng dưới, huyết ứ thành cục.
Bài 2:  Đương quy 9g, xuyên khung 9g, đào nhân 9g, gừng rang 6g, cam thảo nướng 5g, ích mẫu thảo 9g, ngũ linh chi 9g, bồ hoàng 9g, sắc lấy nước uống.
Bài 3: Sơn tra 30g, đường đỏ 15g, sắc lấy nước uống, chữa đau bụng sau sinh do huyết ứ.
Bài 4: Đương quy 32g, đào nhân 12g, xuyên khung 12g, chích thảo 2g, bào khương 2g, sắc nước uống. Ngoài tác dụng chữa đau bụng sau sinh do huyết ứ bài thuốc này còn có tác dụng tăng tiết sữa cho sản phụ.

Lưu ý: Trong vài ngày sau sinh, sản phụ thường bị đau nhẹ ở bụng dưới do co tử cung, sản phụ không nên lo lắng và không cần dùng thuốc. Tuy nhiên nếu thấy một trong các triệu chứng: đau bụng nhiều ngày càng tăng, sốt, sản dịch có mùi hôi,...  thì cần phải đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa để xử trí kịp thời.