Văn phòng Diện Chẩn Sống Khỏe_ Khu nhà 102 Ngõ 95 Chùa Bộc-Đống Đa-Hà Nội _ ĐT : 0906143408

Hướng dẫn lý thuyết và thực hành cơ bản cho những quí vị thực sự yêu thích Diện Chẩn . Hãy gọi cho chúng tôi để biết lịch .

Tư vấn sức khỏe , chẩn bệnh đưa ra phác đồ miễn phí.

Hiển thị các bài đăng có nhãn ung thư cổ tử cung. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ung thư cổ tử cung. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2015

Coi chừng mắc u xơ cổ tử cung vì thường xuyên thức khuya

Cuộc sống hiện đại khiến việc thức khuya không còn là điều xa lạ với chị em phụ nữ. Có người thức khuya vì yêu cầu công việc hay học tập, có người đi ngủ muộn vì muốn xem phim đọc sách hoặc ra ngoài cùng bạn bè, cũng có người đơn giản vì bị mắc bệnh khó ngủ hoặc do thức khuya đã trở thành thói quen.

Thức khuya thường xuyên và kéo dài không chỉ hủy hoại nhan sắc mà còn khiến chị em dễ mắc bệnh phụ khoaThức khuya thường xuyên và kéo dài không chỉ hủy hoại nhan sắc mà còn khiến chị em dễ mắc bệnh phụ khoa
Những tác hại phổ biến nhất của thức khuya như làm suy giảm sức khỏe, hủy hoại nhan sắc, ảnh hưởng tiêu cực đến cơ chế sinh học của cơ thể và sức khỏe sinh sản của phái đẹp. Thức khuya thường xuyên, dù là với mục đích gì đi chăng nữa cũng đều có thể gây ra rối loạn nội tiết tố, nguyên nhân chính dẫn đến các bệnh phụ khoa. Dưới đây là 4 phổ biến nhất mà chị em phải đối mặt nếu thường xuyên thức khuya.
Kinh nguyệt không đều
Thức khuya nhiều là nguyên nhân chính khiến chị em phụ nữ thường bị căng thẳng và dần dẫn đến rối loạn estrogen, làm cho kinh nguyệt không đều. Kinh nguyệt không đều bao gồm: chậm kinh, mất kinh, máu kinh thay đổi cả về lượng, màu sắc lẫn mùi, những thay đổi trong ngày có kinh, rong kinh... Rối loạn kinh nguyệt có thể xảy ra ở độ tuổi bắt đầu hành kinh và cả độ tuổi mãn kinh.
Nột số bệnh khác cũng có thể gây ra tình trạng rối loạn kinh nguyệt là: rối loạn tuyến giáp, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, u xơ hay lạc nội mạc tử cung... Tình trạng kinh nguyệt không đều kéo dài còn làm ảnh hưởng đến sự thụ thai thuận lợi của nữ giới. Do đó, chị em phụ nữ cần hạn chế việc thức quá khuya trong thời gian dài để bảo vệ sức khỏe sinh sản của mình.
Một trong những bệnh phụ khoa mà chị em có thể mắc phải do thức khuya là hiện tượng rối loạn kinh nguyệtMột trong những bệnh phụ khoa mà chị em có thể mắc phải do thức khuya là hiện tượng rối loạn kinh nguyệt
Viêm nhiễm "vùng kín"
Các bệnh viêm nhiễm thường gặp do thức khuya thường xuyên bao gồm viêm âm đạo, viêm cổ tử cung, và viêm khung xương chậu. Viêm nhiễm "vùng kín" xuất phát từ sự mất cân bằng trong môi trường âm đạo. Lúc này, lượng vi khuẩn có hại sinh sôi nhiều hơn, tiêu diệt các vi khuẩn có lợi và gây bệnh. Đồng thời, thức khuya khiến cơ thể phái đẹp luôn trong tình trạng mệt mỏi, suy giảm sức đề kháng và miễn dịch. Đó chính là lý do tại sao các vi khuẩn có hại xâm nhập và sinh sôi mạnh mẽ trong cơ thể.
U xơ cổ tử cung
Thức khuya sẽ tác động đến đồng hồ sinh học của cơ thể, làm phá vỡ sự trao đổi chất của kích thích tố, dẫn đến u xơ tử cung. Nếu phát hiện từ 2 dấu hiệu trở lên như: đau nhức vùng thắt lưng, kinh nguyệt thất thường, huyết trắng nhiều, bụng dưới xuất hiện những cục nhỏ cứng hay luôn có cảm giác muốn tiểu tiện, chị em nên đến gặp bác sĩ càng sớm càng tốt. Bệnh u xơ cổ tử cung nếu kịp thời chữa trị có thể chữa khỏi được, nhưng nếu để kéo dài sẽ có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung.
Bệnh ở tuyến vú
Nếu phải thức khuya làm việc và tiếp xúc nhiều với ánh đèn sáng sẽ làm hủy hoại hormone có chức năng ức chế khối u ở vú. Do đó, chị em phụ nữ thức khuya thường xuyên sẽ có nguy cơ mắc các bệnh ở tuyến vú cao hơn những người bình thường.
Phái đẹp nên tập thói quen đi ngủ sớm để giữ gìn nhan sắc, giảm nguy cơ mắc bệnh phụ khoaPhái đẹp nên tập thói quen đi ngủ sớm để giữ gìn nhan sắc, giảm nguy cơ mắc bệnh phụ khoa
Những bệnh ở tuyến vú mà nữ giới có thể gặp phải do thường xuyên đi ngủ muộn bao gồm tăng sản tuyến vú, tiết dịch ở đầu vú, u xơ vú và ung thư vú... Vì vậy, phái đẹp nên tạo cho mình thói quen ngủ sớm, tránh thức quá khuya và dài ngày để cơ thể luôn khỏe mạnh và tránh được những căn bệnh phụ khoa nguy hiểm.


Thứ Ba, 29 tháng 9, 2015

Ung thư gan

Ung thư gan là một bệnh nguy hiểm, bệnh có tính chất phổ biến trên toàn thế giới, bệnh thường khó chẩn đoán, do vậy khi bệnh nặng người bệnh mới đến bệnh viện, việc điều trị kém hiệu quả, vì vậy tỉ lệ tử vong thường cao. Trên thế giới ung thư gan xếp thứ ba về tỉ lệ tử vong do ung thư và xếp thứ năm trong các bệnh lý ung thư. Hàng năm bệnh gây ra cái chết cho khoảng trên 50 vạn người, riêng ở nước ta mỗi năm có trên hai vạn người tử vong do ung thư gan.
Ung thư gan
Virut viêm gan B có thể gây ung thư gan.
Phân loại ung thư gan
Danh từ ung thư gan rất thông dụng để chỉ người bệnh có khối u ác tính phát triển trong gan. Song về y học người ta phân biệt ung thư gan có hai loại: ung thư tế bào gan nguyên phát và ung thư gan do ung thư các tạng khác trong cơ thể di căn đến, người ta thường gọi là ung thư gan thứ phát. Trong bài viết này chủ yếu nói về ung thư gan nguyên phát, vì nó là nguyên nhân chính gây tỉ lệ tử vong cao. Ung thư tế bào gan nguyên phát (HCC) thường gặp các loại sau đây:
Ung thư biểu mô tế bào gan: loại ung thư này thường gặp nhất, nó chiếm trên 80%, thường phát triển ở những người trên 50 tuổi, người ta thấy nam giới bị bệnh gấp hai lần phụ nữ. Loại ung thư này khởi phát từ các tế bào gan, tiến triển nhanh có thể dẫn đến tử vong trong vòng 6 tháng. Mức độ di căn nhiều ở các khối u thể thâm nhiễm, người ta thường thấy di căn theo đường máu đến phổi, xương, tuyến thượng thận...
Ung thư biểu mô đường mật là khối ung thư phát triển từ các tế bào biểu mô đường mật, loại ung thư này người ta thường gặp ở những bệnh nhân viêm xơ cứng đường mật nguyên phát, sỏi đường mật lâu ngày, nhiễm ký sinh trùng... .
Ung thư nguyên bào gan: loại ung thư này thường gặp ở trẻ em dưới 4 tuổi, bệnh tiến triển do sự phát triển bất thường của gen. Với những tiến bộ của y học việc điều trị loại bệnh này đã mang lại nhiều kết quả tốt.
Loại sarcom gan là loại sarcom mạch máu ác tính thường phát hiện muộn, hay gặp ở người trên 60 tuổi. Triệu chứng hay gặp đau hạ sườn phải, gan to, lách to, thiếu máu, tràn dịch màng bụng...
Ung thư gan do di căn ở các tạng khác đến, người ta gọi là ung thư thứ phát loại này thường gọi tên của tạng ung thư khởi đầu: ví dụ ung thư đại tràng di căn gan.
Triệu chứng và nguyên nhân của ung thư gan nguyên phát
Các triệu chứng ung thư gan diễn biến thầm lặng trong thời gian dài, vì vậy ở thời kỳ bệnh còn nhẹ người ta có thể gặp các triệu chứng: mệt mỏi, ăn kém, ngủ kém, đau bụng nhẹ... khi bệnh nặng khối u to ảnh hưởng đến toàn bộ chức năng gan và cơ thể các triệu chứng xuất hiện rõ ràng hơn: đau hạ sườn phải nhiều, sốt, vàng da, sút cân, ăn uống kém, dễ chảy máu (nôn ra máu, đi ngoài ra máu), bụng có cổ trướng. Các triệu chứng thực thể trong giai đoạn này biểu hiện rõ ràng trên siêu âm gan, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ đều thấy khối u choán chỗ trong gan; Sinh thiết gan được xác định có tế bào ác tính; Các xét nghiệm đều có kết quả men gan tăng, AFP thường tăng cao, bilirubin tăng... . Giai đoạn này bệnh đã nặng, đa số bệnh nhân tử vong trong tình trạng hôn mê hoặc nôn ra máu ...
Các nguyên nhân gây ung thư gan nguyên phát: có nhiều nguyên nhân gây ra ung thư gan nguyên phát như virut, lạm dụng rượu, các nấm độc, các chất độc, các bệnh đường mật, bệnh gan ứ sắt. Nhưng người ta còn thấy có những yếu tố liên quan đến phát triển ung thư gan: như tuổi tác, nam - nữ, gia đình có nhiều người ung thư gan ... Hiện nay có hai nguyên nhân quan trọng nhất liên quan đến ung thư gan nguyên phát đó là viêm gan virut B, viêm gan virut C, lạm dụng rượu dẫn đến xơ gan và ung thư gan. Viêm gan virut B và virut C ở nước ta có tỉ lệ nhiễm virut B từ 10 - 20 % dân số, nhiễm virut C có tỉ lệ 2 - 6 % dân số. Hiện nay chúng ta có khoảng 20 triệu người nhiễm virut B và virut C. Số bệnh nhân bị ung thư gan nguyên phát được điều trị nội khoa hoặc phẫu thuật ở các khu vực khác nhau người ta tìm thấy tỉ lệ nhiễm virut B và virut C từ 80 - 90%.
Lạm dụng rượu kéo dài gây tổn thương gan từ nhẹ đến nặng, bước đầu gan bị nhiễm mỡ, sau đó có thể dẫn đến viêm gan, xơ gan và ung thư gan. Hiện nay ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới xơ gan do rượu ngày một gia tăng, người ta thấy trên 80 % trường hợp ung thư gan nguyên phát phát triển trên xơ gan.
Các bệnh gan mật mạn tính, nhiễm các chất độc, nấm độc aflatoxin... cũng có thể gây nên ung thư gan nguyên phát.
Chẩn đoán bệnh
Vấn đề chẩn đoán đối với ung thư gan nguyên phát được nhiều nước quan tâm hàng đầu là phải tìm mọi phương pháp để phát hiện ung thư gan nguyên phát khi khối u còn bé chưa có di căn, bệnh nhân được phát hiện trong giai đoạn này có thể được điều trị khỏi hoàn toàn. Nhưng trong thực tế việc phát hiện sớm gặp rất nhiều khó khăn vì giai đoạn đầu nhiều bệnh nhân hoàn toàn không có triệu chứng. Chẩn đoán ung thư gan người ta dựa vào hai nhóm triệu chứng: nhóm triệu chứng bệnh nhân cảm nhận được tùy mức độ nặng nhẹ như: mệt mỏi, ăn kém, ngủ kém, ợ hơi, khó tiêu, đại tiện thất thường, tức ở hạ sườn phải... Nhóm các triệu chứng do các thầy thuốc thăm khám biết được: gan to, bụng có báng nước, da vàng, có các đám xuất huyết dưới da, phù chi dưới; siêu âm bụng, chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ thấy có khối u ở trong gan; xét nghiệm thường thấy men gan cao bilirubin máu cao AFP cao (cần chú ý có khoảng trên 30% bệnh nhân AFP không cao nhưng bệnh nhân vẫn bị ung thư gan). Chẩn đoán có tính chất quyết định phải làm sinh thiết gan, phải tìm thấy tế bào ung thư gan trên tiêu bản.
Điều trị rất khó khăn
Ung thư gan nguyên phát là loại bệnh nặng có tỉ lệ tử vong cao, điều trị rất khó khăn, vì vậy muốn điều trị có kết quả cần phải phát hiện sớm. Hiện nay khối u gan với đường kính trên dưới 3 cm, phương pháp hàng đầu là điều trị triệt căn bằng cách phẫu thuật cắt bỏ khối u hoặc đốt sóng cao tần phá hủy khối u. Hai phương pháp này đã đưa tỉ lệ bệnh nhân sống sau 5 năm ngày một gia tăng. Gần đây người ta dùng tia xạ chọn lọc với tần số cao để phá hủy khối u, sự phá hủy này không làm hư hại các tế bào lành xung quanh khối u. Phương pháp này có nhiều ưu điểm vượt trội kéo dài sự sống cho bệnh nhân. Những bệnh nhân không phù hợp với hai phương pháp trên thì được điều trị bằng hóa chất, tắc mạch hóa dầu, tiêm cồn vào khối u, hoặc dùng hạt vi cầu đánh dấu PXY-90 ... Hiện nay nước ta đang phát triển kỹ thuật ghép gan từ người cho sống hoặc người cho chết não, sau 10 năm phát triển chúng ta đã ghép gan được 40 bệnh nhân, bệnh nhân ghép gan đầu tiên sau 10 năm vẫn khỏe mạnh. Ghép gan là phương pháp cuối cùng để điều trị ung thư gan nguyên phát, khi tất cả các phương pháp trên đều không phù hợp nữa.
Ung thư gan
Ăn nhiều rau quả giúp giảm nguy cơ ung thư gan.
Phòng bệnh
Ung thư gan nguyên phát rất khó phát hiện sớm, điều trị rất khó khăn, đa số bệnh nhân tử vong, do vậy vấn đề phòng bệnh đối với ung thư gan nguyên phát là vô cùng quan trọng. Để hạn chế tối đa tỉ lệ người mắc bệnh và tử vong, một số công tác dự phòng sau đây cần được quan tâm:
Đẩy mạnh phong trào toàn dân chung tay đánh gục virut viêm gan mà Hội Gan Mật Việt Nam đã phát động: đẩy mạnh tiêm chủng vắc- xin phòng viêm gan virut B, ngăn ngừa lây nhiễm viêm gan virut B từ mẹ sang con trong khi sinh, truyền máu và các sản phẩm máu an toàn, quan hệ tình dục an toàn, khám và xét nghiệm để phát hiện những người nhiễm virut viêm gan, chăm sóc và điều trị những người viêm gan virut B và virut C đúng phác đồ để hạn chế biến chứng xơ gan và ung thư gan.
Đẩy mạnh truyền thông nâng cao nhận thức cho toàn cộng đồng tác hại lạm dụng rượu bia dẫn đến xơ gan và ung thư gan. Cần có các biện pháp hạn chế sử dụng rượu bia để giảm tỉ lệ xơ gan do rượu.

Điều trị đúng quy trình các bệnh gan mật, tránh sử dụng các loại nấm mốc, các thuốc có độc hại, tránh hút thuốc lá...


Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015

5 dạng ung thư dễ mắc khi về già

1. Ung thư da
Theo tiến sĩ, bác sĩ chuyên khoa Cary Presant, ở BV City of Hope, California, tác giả nghiên cứu mang tên Surviving American Medicine (Y học cho nhóm người mắc bệnh ung thư), thì ung thư da liên quan đến ánh nắng mặt trời là căn bệnh phổ biến nhất khi về già. Melanoma là loại nguy hiểm nhất trong nhóm ung thư da, nhưng lại có ít người có khối u ác tính, và được điều trị khác với các loại ung thư khác. Ngoài ra, ung thư tế bào đáy và vảy được xem là phổ biến, nhưng thường là lành tính, không gây nguy hiểm.
Giải pháp: cho dù mắc loại nào cũng nên tư vấn, khám bác sĩ da liễu để biết mức độ mắc bệnh cụ thể. Nên khám tổng thể da, kể cả da đầu, móng tay, vùng phận sinh dục, và ở giữa các ngón chân ngón tay.
5 dạng ung thư dễ mắc khi về già
2. Ung thư vú
Ung thư vú là nguyên nhân hàng đầu trong nhóm các loại bệnh ung thư ở phụ nữ nói chung và nhóm lớn tuổi nói riêng (trừ ung thư da). Theo ACS, ngay trong năm 2015 có trên 230.000 phụ nữ được chẩn đoán mắc bệnh. Trong đó tỉ lệ mắc bệnh thường rơi vào nhóm trung cao tuổi, phụ nữ trẻ thường hiếm gặp hơn. Điều này không có nghĩa, phụ nữ trẻ không mắc bệnh và không đi khám, nhất là chụp X-quang tuyến vú. Theo tiến sĩ Cary Presant, lý do gây ung thư vú hiện khoa học vẫn chưa hiểu hết, người ta tình nghi đến rất nhiều nguyên nhân, trong đó có lý do sức khỏe hệ miễn dịch suy giảm và những thay đổi về nội tiết tố. Ngoài ra, qua nghiên cứu cũng cho thấy, phụ nữ không lập gia đình, không sinh con, thời gian có kinh dài, mãn kinh muộn, hoặc có kinh nguyệt sớm cũng là nguyên nhân làm tăng rủi ro mắc bệnh.
Giải pháp: mọi phụ nữ, nhất là nhóm có rủi ro mắc bệnh cao nên đi khám thủ thuật mammograms (X-quang tuyến vú hay nhũ ảnh) định kỳ cho đến khi 75 tuổi. Sàng lọc phát hiện sớm các tổn thương tiền ung thư sẽ được kiểm soát kịp thời, kéo dài tuổi thọ. Ngoài ra, cũng nên tư vấn bác sĩ về sử dụng, bổ sung vitamin D bởi qua nghiên cứu cho thấy vitamin D có tác dụng phòng ngừa ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt và ung thư đại trực tràng. Nếu phát hiện thấy khối u hoặc sưng vú nên đi kiểm tra ngay lập tức, nếu chậm trễ có thể rút ngắn tuổi thọ người trong cuộc.
5 dạng ung thư dễ mắc khi về già
3. Ung thư tuyến tiền liệt
Ung thư tuyến tiền liệt là căn bệnh khá phổ biến ở đàn ông, nhất là nhóm trung cao tuổi, ngoại trừ ung thư da. Theo ACS, có khoảng 56% các trường hợp ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới được chẩn đoán sau tuổi 65 tuổi, 97% xảy ra ở nam giới trên 50 tuổi. Trung bình, cứ 7 đàn ông thì có 1 được chẩn đoán mắc bệnh trong cuộc đời của mình. Do xuất hiện nhiều ở nhóm cao tuổi, nên khi tuổi càng cao, nguy cơ mắc bệnh càng lớn do nội tiết tố thay đổi. Nếu mắc bệnh cần theo dõi chặt chẽ, thực tế có người không tiến triển, tăng bệnh, nhưng có người lại phát triển nghiêm trọng vì vậy tư vấn, khám điều trị sớm sẽ mang lại hiệu quả cao.
Giải pháp: để hạn chế rủi ro, khi bước vào tuổi 50, đàn ông nên đi thăm khám sức khỏe tuyến tiền liệt. Nếu khó khăn trong tiểu tiện, tiểu thường xuyên trong đêm, hoặc thấy máu trong nước tiểu, hãy nói cho bác sĩ biết. Cũng nên tư vấn sử dụng vitamin D và aspirin liều trẻ em, cả hai đều có tác dụng giúp ngăn ngừa ung thư tuyến tiền liệt.
5 dạng ung thư dễ mắc khi về già
4. Ung thư phổi
Ung thư phổi là căn bệnh có tỉ lệ mắc bệnh cao thứ hai, kể cả tỉ lệ tử vong ở cả đàn ông lẫn phụ nữ (ngoại trừ ung thư da). Trung bình cứ 2 trong 3 người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư phổi rơi vào nhóm trên 65 tuổi. Ung thư phổi là hậu quả của quá trình “thâm niên” hút thuốc lá và tích lũy khói thuốc trong phổi, kể cả hít phải khói do người hút phả ra, chuyên môn gọi là hút thuốc thụ động, do radon (khóa chất độc hại có trong không khí, trong đất) và ô nhiễm môi trường không khí.
Giải pháp: sàng lọc hiệu quả là các tốt nhất để giảm nguy cơ tử vong vì ung thư phổi, nhất là nhóm người có tiền sử hút thuốc lá hoặc tiếp xúc nhiều với khói thuốc. Ví dụ, dùng thủ thuật CT scan (chụp cắt lớp điện toán), vừa đơn giản lại hiệu quả, nhất là khi xuất hiện các triệu chứng ho dai dẳng, đau tức ngực và khó thở.
5 dạng ung thư dễ mắc khi về già
5. Ung thư đại trực tràng
Ung thư đại trực tràng là căn bệnh thứ ba tử vong cao ở cả hai giới. Trong năm 2011, có tới 90% các trường hợp được chẩn đoán mắc bệnh rơi vào nhóm trên 50 tuổi trở ra. Ung thư đại trực tràng có rất ít nguy cơ cảnh báo, nên việc kiểm soát và phòng ngừa đóng vai trò quan trọng. Nếu phát hiện sớm, tỉ lệ sống còn cho người bệnh có thể đạt trên ngưỡng 90%.
Giải pháp: tư vấn bác sĩ làm thủ tục nội soi đại tràng định kỳ khi bước vào tuổi 50. Nội soi sẽ phát hiện ra khối u, và can thiệp cắt bỏ trước khi trở thành mối nguy hại. Ngoài ra có thể tư vấn dùng aspirin liều trẻ em hàng ngày để giúp ngăn chặn khối u tiến triển. Duy trì thực đơn lành mạnh, đủ chất, hạn chế ăn nhiều thịt đỏ, mỡ, tăng cường nhóm thực phẩm nguyên chất, ít qua chế biến. Khi xuất hiện các triệu chứng liên quan đến ruột, kể cả máu trong phân, táo bón thường xuyên, và đau ở vùng bụng thì nên tư vấn, khám càng sớm càng tốt.



5 dạng ung thư dễ mắc khi về già


Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2015

Các giai đoạn phát triển bệnh ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung phát triển qua 5 giai đoạn chính (giai đoạn 0 - 4), với mỗi giai đoạn chính đều có giai đoạn phụ.

Ung thư cổ tử cung được hiểu đơn giản là có khối u ác tính của cổ tử cung. Dấu hiệu nhận biết ung thư cổ tử cung thường là chảy máu bất thường của âm đạo. 

Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các triệu chứng bệnh không rõ ràng nên việc chẩn đoán thường gặp khó khăn. Thường thì, qua kỹ thuật sàng lọc hiện đại, các bác sĩ mới xác định được bệnh ung thư cổ tử cung đã phát triển đến giai đoạn nào.

Vì vậy, nếu được chẩn đoán ở giai đoạn sớm và thực hiện xạ trị hoặc hóa trị liệu kịp thời thì khả năng khỏi bệnh sẽ cao hơn rất nhiều, đồng thời ngăn chặn sự phát triển của bệnh. Một trong các xét nghiệm sàng lọc thường xuyên được thực hiện để chẩn đoán sớm ung thư cổ tử cung là xét nghiệm Pap smear. 

Tuy nhiên, nếu bệnh đã sang giai đoạn nặng, phương pháp điều trị được lựa chọn thực hiện là phẫu thuật. 

Cổ tử cung là một phần rất hẹp của tử cung, nằm ở phía trên của âm đạo. Ung thư cổ tử cung phát triển qua 5 giai đoạn chính (các giai đoạn được đánh số từ 0 - 4), với mỗi giai đoạn chính đều có các giai đoạn phụ.

Các giai đoạn phát triển bệnh ung thư cổ tử cung 1Dấu hiệu nhận biết ung thư cổ tử cung thường là chảy máu bất thường của âm đạo. Ảnh minh họa
Giai đoạn 0

Đây là giai đoạn đầu của ung thư cổ tử cung còn được gọi là ung thư biểu mô tại chỗ. Trong giai đoạn này, các tế bào ung thư vẫn còn ở lớp bề mặt và chưa thâm nhập vào sâu bên trong các mô.

Giai đoạn I

Khi các tế bào ung thư đã đi sâu hơn và không nằm bên ngoài nữa thì bệnh chuyển san giai đoạn I.

- Giai đoạn IA: Ở giai đoạn phụ này, các tế bào ung thư chỉ có thể xác định được bằng cách kiểm tra dưới kính hiển vi.

- Giai đoạn IA1: Trong giai đoạn này, tế bào ung thư xâm nhập vào trong cổ tử cung 3mm. 

- Giai đoạn  IA2: Lúc này, các tế bào ung thư đi sâu vào cổ tử cung từ 3-5mm và nhỏ hơn 7mm về bề rộng.

- Giai đoạn IB: Đây là khi các tế bào ung thư có thể được xác định mà không cần nhìn qua kính hiển vi.

- Giai đoạn IB1: Trong giai đoạn này các tế bào ung thư đã phát triển nhưng chưa lớn hơn 4cm. 

- Giai đoạn IB2: Trong giai đoạn này các tế bào ung thư lớn hơn 4cm.

Giai đoạn II

Trong giai đoạn này của ung thư cổ tử cung, tế bào ung thư đã xâm lấn các mô lân cận, nhưng bị hạn chế trong khu vực vùng chậu.

- Giai đoạn IIA: Lúc này, tế bào ung thư đã lan rộng đến phần trên nhưng chưa ảnh hưởng đến phần dưới của âm đạo.

- Giai đoạn IIB: Đây là khi tế bào ung thư đã lan rộng đến các mô ở dạ con.

Giai đoạn III

Ở giai đoạn này, các tế bào ung thư đã ảnh hưởng đến các khu vực dưới của âm đạo.

- Giai đoạn IIIA: Chỉ có các khu vực dưới của âm đạo bị ảnh hưởng và ung thư được giới hạn ở khu vực đó.

- Giai đoạn IIIB: Trong giai đoạn này, tế bào ung thư đã lan rộng ra thành vùng chậu và ngăn cản dòng chảy của nước tiểu tới bàng quang.

Giai đoạn IV

Trong giai đoạn này, các khu vực khác của cơ thể ngoài cổ tử cung cũng bị ảnh hưởng. Lúc này, bệnh ung thư cổ tử cung đã trải qua các giai đoạn trên và trở chuyển sang di căn.

- Giai đoạn IVA: Bàng quang hoặc trực tràng bị ảnh hưởng trong giai đoạn này.

- Giai đoạn IVB: Giai đoạn này của ung thư được coi là giai đoạn nặng và hết khả năng chữa trị bệnh. Thậm chí các cơ quan ở xa tế bào ung thư cũng có thể bị ảnh hưởng nặng nề.