Văn phòng Diện Chẩn Sống Khỏe_ Khu nhà 102 Ngõ 95 Chùa Bộc-Đống Đa-Hà Nội _ ĐT : 0906143408

Hướng dẫn lý thuyết và thực hành cơ bản cho những quí vị thực sự yêu thích Diện Chẩn . Hãy gọi cho chúng tôi để biết lịch .

Tư vấn sức khỏe , chẩn bệnh đưa ra phác đồ miễn phí.

Hiển thị các bài đăng có nhãn benh dong kinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn benh dong kinh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2015

Cảnh giác với viêm não do virut Herpes

Viêm não do virut Herpes xảy ra quanh năm, bệnh thường gặp ở người trên 40 tuổi, chiếm 46,7%. Virut herpes lây nhiễm một cách âm thầm, tiềm ẩn trong cơ thể người và sau đó phát triển thành bệnh khi cơ thể bị suy giảm sức đề kháng. Vì vậy, nếu không được phát hiện và điều trị đặc hiệu sớm, tỷ lệ có diễn biến nặng tử vong của bệnh có thể lên tới 70% và tỷ lệ rất nhỏ có thể được cứu sống nhưng khả năng phục hồi các di chứng thần kinh là rất thấp.
Đường lây nhiễm
Nhóm virut Herpes có đặc tính lây nhiễm một cách âm thầm, tiềm ẩn trong cơ thể người và sau đó phát triển thành bệnh khi cơ thể bị suy giảm sức đề kháng.
Cảnh giác với viêm não do virut Herpes
Hình ảnh MRI não điển hình của bệnh viêm não do Herpes.
Hiện nay, có 8 loại virut Herpes gây bệnh cho người đã được xác định như: virut Herpes simplex týp 1 (HSV-1).Virut Herpes simplex týp 2 (HSV-2), virut Varicella-zoster (VZV) (HHV- 3), Cytomegalovirus (CMV); virut Human Herpes týp 6 (HHV-6), virut Human Herpes týp 7 (HHV... trong đó, týp 1, 2 dễ gây viêm não nhất. Sau khi xâm nhập vào cơ thể dù có biểu hiện lâm sàng hay không virut vẫn tồn tại trong cơ thể ở dạng tiềm tàng, người nhiễm virut sẽ mang virut suốt đời. Hệ thống miễn dịch của vật chủ được kích thích sẽ hạn chế sự nhân lên và lan truyền của virut. Virut có thể tránh hệ thống miễn dịch bằng cách theo các dây thần kinh đến ẩn lấp ở các hạch thần kinh (HVS 1 ẩn lấp ở hạch thần kinh sinh ba và hạch cạnh sống cổ, HSV 2 ẩn lấp ở hạch cạnh sống cùng). Khi gặp điều kiện thuận lợi virut sẽ nhân lên, lan truyền và gây bệnh ở hệ thống da - niêm mạc hoặc ở hệ thống thần kinh trung ương. Thông thường virut nhân lên bên ngoài hệ thống thần kinh trung ương và đi theo các dây thần kinh như dây thần kinh khứu giác. Sau đó virut xâm nhập tế bào thần kinh gây nên rối loạn chức năng tế bào, xung huyết quanh mao mạch, xuất huyết và đáp ứng viêm lan tỏa ảnh hưởng đến chất xám và chất trắng, tuy nhiên chất xám bị ảnh hưởng nặng nề hơn. Bệnh lý não khu trú là hậu quả của tổn thương một vùng não nào đó do virut có ái tính cao với vùng này.
Dấu hiệu nhận biết
Viêm não do virut Herpes (HSE), nguyên nhân phần lớn là do HSV 1 chiếm 96%. Bệnh có thể gặp ngay ở thời kỳ nhiễm Herpes tiên phát hoặc tái phát.
Ở giai đoạn khởi phát, các triệu chứng lâm sàng của viêm não do virut Herpes có thể diễn biến cấp tính hoặc từ từ với biểu hiện đầu tiên là sốt. Đây là triệu chứng phổ biến, xảy ra đột ngột, người bệnh có thể sốt liên tục 39 - 40oC nhưng cũng có khi sốt không cao. Sau đó các triệu chứng kèm theo như: nhức đầu, kích thích, kém linh hoạt; buồn nôn, nôn; các biểu hiện của viêm long đường hô hấp (ho, chảy nước mũi).
Ở giai đoạn toàn phát, các biểu hiện thần kinh sẽ nhanh chóng xuất hiện trong đó nổi bật nhất là rối loạn tri giác từ nhẹ đến nặng như: ngủ gà, li bì, lơ mơ đến hôn mê. Bệnh nhân thường có co giật và có các dấu hiệu thần kinh khác: dấu hiệu màng não, các dấu hiệu thần kinh khu trú (liệt nửa người hoặc tứ chi), tăng hoặc giảm trương lực cơ. Nếu không được cấp cứu có thể suy hô hấp, phù phổi cấp, suy tim hoặc sốc...
Dễ chẩn đoán nhầm
Do bệnh có các triệu chứng dễ nhầm với các bệnh cảm sốt thông thường và sốt virut nên bệnh thường phát hiện muộn khiến việc điều trị rất tốn kém.
Viêm não Herpes có thể do cơ chế nhiễm trùng tiên phát. Người bệnh bị nhiễm HSV1 khởi đầu từ họng - mũi, rồi xâm nhập đến vùng hành khứu, đến thùy thái dương trong, thùy trán và thùy ổ mắt. Xét nghiệm máu lúc đầu không có kháng thể kháng HSV1. Hoặc có thể do cơ chế nhiễm trùng thứ phát sau tái hoạt hóa, nghĩa là người bệnh nhiễm HSV1 từ hầu họng rồi lan đến hạch thần kinh sinh ba, hạch cổ (HSV1) hoặc hạch cạnh sống (HSV2) và tiềm ẩn ở đó. Sau đó virut tái hoạt hóa lan ra mặt gây Herpes môi, lan lên hố sọ giữa và trước gây viêm não Herpes. Xét nghiệm lúc đầu có kháng thể kháng HSV1.
Tuy nhiên, HSV1 là nguyên nhân chính gây viêm não Herpes (96%) và cũng thường gây tổn thương niêm mạc miệng. Trong khi đó, HSV2 thường gây tổn thương ở bộ phận sinh dục và viêm não ở trẻ sơ sinh.
Virut Herpes (HSV) là một trong các căn nguyên gây viêm não ở người. Theo kết quả nghiên cứu tại các nước phát triển, viêm não do HSV thường diễn biến nặng có tỷ lệ tử vong và di chứng rất cao. Nếu không được điều trị đặc hiệu sớm tỷ lệ tử vong của viêm não Herpes có thể lên tới 70% - 97,5% các trường hợp sống sót để lại di chứng nặng nề ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Do vậy, khi có những dấu hiệu bất thường như: sốt đột ngột, nhức đầu, buồn nôn... không được tự điều trị mà cần đến cơ sở y tế để được khám và chẩn đoán bệnh chính xác, tránh để lại hậu quả đáng tiếc.


Thứ Hai, 28 tháng 9, 2015

Rối loạn tiền đình ngoại biên

Rối loạn tiền đình ngoại biên là rối loạn chức năng của các cấu trúc ở tai trong (chỗ của các ống bán khuyên) hoặc của dây thần kinh số 8. Rối loạn tiền đình ngoại biên thường gặp với biểu hiện như chóng mặt khi thay đổi tư thế. Đây là dạng bệnh lành tính, chỉ làm cho người bệnh khó chịu trong sinh hoạt nhưng vẫn còn đi đứng được, cơn chóng mặt thường thoáng qua chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn, chúng xuất hiện khi thay đổi tư thế như lắc đầu, từ tư thế nằm chuyển sang ngồi. Tuy nhiên, nhiều người bị rối loạn tiền đình ngoại biên nặng có thể có biểu hiện tình trạng chóng mặt thật nặng và kéo dài, người bệnh không thể đi đứng được, không thể thay đổi tư thế từ nằm sang ngồi được. Đặc biệt, cơn chóng mặt thường kèm theo nôn ói rất nhiều và nôn kéo dài, ù tai, giảm thính lực một hoặc cả hai bên tai. Người bệnh còn có thể kèm theo tình trạng nặng đầu, khó tập trung, choáng váng, hồi hộp, sợ ánh sáng... Rối loạn tiền đình ngoại biên xảy ra thường là do tổn thương tai trong hoặc dây thần kinh tiền đình xuất phát từ các nguyên nhân như: viêm tai xương chũm mạn tính, do rượu, do dùng các thuốc gây tổn thương tiền đình như thuốc lợi tiểu, thuốc giảm đau...


Thứ Hai, 7 tháng 9, 2015

Cơn co giật - Có phải biểu hiện của bệnh động kinh?

Bệnh động kinh không còn là một căn bệnh quá xa lạ ở thời đại ngày nay. Nhìn đứa trẻ bị mắc bệnh động kinh khi lên cơn co giật, Chúng ta không khỏi xót xa.

Để có thể tránh cho trẻ mắc căn bệnh quái ác này. Chúng ta hãy tìm hiểu về nó.

Cơn co giật như thế nào được coi là động kinh?

Cơn co giật được xem là một chứng bệnh thể hiện tình trạng rối loạn tạm thời về ý thức, cảm giác, vận động do sự phóng điện đột ngột quá mức nhất thời của một số tế bào thần kinh khiến cơ thể đột nhiên mất ý thức một thời gian ngắn, đồng thời gân cơ ở chân, tay hoặc toàn thân bị co rút và giật.

Cần phân biệt giữa co giật do sốt cao và co giật không kèm theo sốt

Co giật do sốt cao là cơn giật xuất hiện khi sốt trên 38,5oC, thường xuất hiện ở trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi, cơn giật trên dưới 10 phút kèm theo gồng toàn thân, do nguyên nhân nhiễm khuẩn hoặc virus như viêm màng não, viêm não, lỵ trực trùng,… 

Còn co giật không kèm theo sốt là cơn xuất hiện do các bệnh tổn thương hệ thần kinh trung ương như xuất huyết não, chấn thương sọ não, động kinh,… 
  
Sự phóng điện bất thường của các noron dẫn tới bệnh động kinh

Khoảng 50% trẻ em có sốt cao co giật kéo dài và tái phát nhiều lần, kèm theo một số yếu tố nguy cơ như tiền sử gia đình có người bị động kinh, sốt cao co giật trước 9 tháng tuổi, chậm phát triển tâm lý và có dấu hiệu thần kinh bất thường cũng có thể tiến triển thành bệnh động kinh.

Như vậy, cơn co giật được coi là bệnh động kinh khi cơn giật ngắn trong khoảng 30 phút nhưng định hình giống nhau, lặp đi lặp lại, xuất hiện từ lần thứ 3 trở đi, cơn đến đột ngột mà không báo trước, đồng thời mất ý thức trong cơn.

Bệnh động kinh và phác đồ điều trị

Khoảng 20 - 30% số bệnh nhân mắc bệnh động kinh có cơn co giật điển hình, nhưng nhiều khi trong điện não đồ lại không tìm thấy sóng động kinh. 

Tuy nhiên kết hợp các biện pháp thăm khám khác cùng với hỏi bệnh sử của bệnh nhân, các bác sĩ có thể chẩn đoán được có đúng là cơn động kinh hay không, thuộc loại cơn nào và lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp. 

    
Trẻ sốt cao dễ dẫn tới những cơn co giật


Trong phác đồ điều trị, ngoài việc cắt cơn co giật cần kết hợp hỗ trợ hô hấp và điều trị nguyên nhân. Khi xác định là cơn co giật trong động kinh, cần phải có sự theo dõi trong quá trình điều trị để ngăn ngừa nguy cơ cơn tái phát. Bên cạnh việc lựa chọn một số thuốc điều trị, các bác sĩ có thể phối hợp với một số sản phẩm thảo dược để giúp người bệnh mau chóng hồi phục.

Các cảnh báo khi điều trị động kinh

Bệnh nhân bị bệnh động kinh cần được điều trị sớm sau khi được chẩn đoán, lựa chọn thuốc kháng động kinh theo từng thể co giật với liều ban đầu thấp sau tăng lên đến tối đa. 

Hơn nữa bệnh được kiểm soát theo triệu chứng nên cần sử dụng thuốc duy trì và không ngừng thuốc đột ngột, nếu không sẽ gây động kinh tái diễn, tần suất cơn dày hơn và cả động kinh kháng trị. Khi không lên cơn nào trong thời gian tiếp theo mới giảm liều từ từ rồi ngừng uống thuốc, nếu bệnh tái phát sẽ phải điều trị lại từ đầu.

Khi có dấu hiệu lên cơn co giật, cần giữ bình tĩnh, không nên hốt hoảng và thực hiện các bước xử trí ban đầu: Đặt bệnh nhân nằm nghiêng bên trái, nới lỏng quần áo; Không nhỏ bất kỳ thứ gì vào miệng vì dễ gây sặc, tắc nghẽn đường thở. Gọi xe cấp cứu ngay nếu cơn động kinh tiếp tục kéo dài trên 5 phút, cơn khởi phát liên tiếp và không hồi phục ý thức sau khi hết cơn.