Văn phòng Diện Chẩn Sống Khỏe_ Khu nhà 102 Ngõ 95 Chùa Bộc-Đống Đa-Hà Nội _ ĐT : 0906143408

Hướng dẫn lý thuyết và thực hành cơ bản cho những quí vị thực sự yêu thích Diện Chẩn . Hãy gọi cho chúng tôi để biết lịch .

Tư vấn sức khỏe , chẩn bệnh đưa ra phác đồ miễn phí.

Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh viêm loét dạ dày. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh viêm loét dạ dày. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2015

Làm gì để phòng tránh những cơn đau dạ dày?

Viêm loét niêm mạc của dạ dày có thể gây đau, ợ nóng và buồn nôn do nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori, loét cũng có thể được gây ra do dùng thuốc giảm đau quá nhiều như aspirin hoặc ibuprofen.

Nguyên nhân
Do nhiễm H. pylori. Đây là nguyên nhân của phần lớn các trường hợp loét dạ dày.
Người bệnh thường xuyên dùng thuốc giảm đau. Một số thuốc - cụ thể là thuốc aspirin, ibuprofen (advil, Motrin,…), naproxen (aleve) và ketoprofen (orudis) - có thể làm tổn thương niêm mạc dạ dày.
Uống quá nhiều rượu: rượu có thể kích thích và ăn mòn lớp nhầy lót dạ dày. Nghiện rượu có thể làm tăng viêm dạ dày.
Sử dụng cocain: cocain có thể gây tổn thương dạ dày, dẫn tới xuất huyết dạ dày và viêm dạ dày.
Stress: stress nặng do đại phẫu, tổn thương do chấn thương, bỏng hoặc nhiễm trùng nặng có thể gây viêm dạ dày, cùng với loét và xuất huyết dạ dày.
Làm gì để phòng tránh những cơn đau dạ dày?
Trái cây rất hữu ích cho bệnh dạ dày.
Rối loạn tự miễn: một loại viêm dạ dày (viêm teo dạ dày) có thể do rối loạn tự miễn khi hệ miễn dịch tấn công các tế bào khỏe mạnh của niêm mạc dạ dày. Điều này làm cho niêm mạc dạ dày từ từ mỏng đi (teo). Lần lượt, dạ dày sản sinh acid ít hơn. Viêm teo dạ dày nặng và thiếu máu ác tính thường đi kèm nhau và hay gặp nhất ở người già. Viêm teo dạ dày là dạng viêm dạ dày mạn tính và hiếm khi gây các triệu chứng dạ dày-ruột.
Bệnh Crohn: bệnh đường ruột này gây viêm mạn tính niêm mạc đường tiêu hóa - hiếm khi gặp ở dạ dày (viêm dạ dày). Dấu hiệu và triệu chứng của bệnh Crohn, thường là đau và tình trạng suy nhược, bao gồm đau bụng và tiêu chảy toàn nước.
Xạ trị liệu và hóa trị liệu: các liệu pháp điều trị ung thư như hóa trị liệu và xạ trị liệu có thể gây viêm niêm mạc dạ dày, dẫn tới loét và viêm dạ dày.
Triệu chứng
Cảm giác cồn cào hoặc đau rát (khó tiêu) ở bụng trên, một số người mô tả như có vị chua hoặc nóng rát dạ dày. Ăn có thể gây nặng hơn hoặc cải thiện được những khó chịu.
Buồn nôn, nôn, chán ăn; ợ hoặc chướng bụng; cảm giác đầy vùng bụng trên sau khi ăn.
Phần lớn các dấu hiệu và triệu chứng viêm dạ dày là tương đối nhẹ và trong thời gian ngắn. Đôi khi, viêm dạ dày có thể gây xuất huyết dạ dày, nhưng ít khi nặng trừ khi cũng bị loét niêm mạc dạ dày. Dấu hiệu xuất huyết dạ dày bao gồm nôn ra máu (có thể giống màu bã cà phê), và phân có máu (thường màu đen hoặc như hắc ín).
Viêm dạ dày xảy ra đột ngột được gọi là viêm dạ dày cấp. Trong giai đoạn cấp của bệnh, viêm dạ dày gây buồn nôn và đau hoặc khó chịu vùng bụng trên. Viêm dạ dày tiến triển lâu ngày được gọi là viêm dạ dày mạn, các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh có thể khác với dấu hiệu và triệu chứng của viêm dạ dày cấp. Bạn có thể đau âm ỉ vùng bụng trên, cảm giác đầy bụng và chán ăn sau vài miếng ăn. Với nhiều người, viêm dạ dày mạn thực sự không có dấu hiệu và triệu chứng nào.
Những thực phẩm, đồ uống cần tránh
Các loại thực phẩm nhiều gia vị và dầu mỡ không gây viêm loét dạ dày như nhiều người tưởng nhưng tất cả các thức ăn cay, chiên và béo có thể gây kích ứng dạ dày vì thế bạn nên tránh chúng trong khi bạn đang có một vết loét dạ dày. 
Tránh các loại gia vị như ớt, mù tạt, hạt nhục đậu khấu và hạt tiêu nóng dẫn đến đau bụng. Mặc dù tỏi có chứa flavonoid tuy nhiên tỏi cũng có thể dẫn tới chứng ợ nóng vì vậy khi ăn cần chú ý tới phản ứng của cơ thể.
Các loại thực phẩm có tính axit cũng có thể gây kích ứng dạ dày của bạn trong khi bạn có một vết loét. Hạn chế các loại thực phẩm như trái cây citric như cam và chanh và nước ép từ các loại trái cây trong quá trình điều trị vết loét của bạn. Cà chua có hàm lượng axit khá cao vì thế khi bị loét dạ dày nên hạn chế cà chua.
Caffeine có thể làm tăng sản xuất acid dạ dày, có thể làm tăng kích thích và gây ra những cơn đau dạ dày. Trong khi bạn có một vết loét dạ dày, bạn nên tránh các đồ uống có chứa caffeine như cà phê, cocacola, trà chứa caffeine và sôcôla. Rượu có thể gây kích ứng và mài mòn niêm mạc dạ dày và dẫn đến chảy máu từ vết loét.
Các loại thực phẩm cần bổ sung
Các loại trái cây và rau quả có chứa falvonoid đã được chứng minh giúp ngăn chặn sự tăng trưởng của vi khuẩn HP. Ăn các loại thực phẩm có chứa các chất này có thể giúp loại bỏ vi khuẩn và cho phép chữa lành các vết loét. 
Flavonoids được tìm thấy trong nhiều loại trái cây và rau quả, ăn các thức ăn như táo, cây nam việt quất, chanh, hành tây và tỏi có thể là một phần quan trọng của chế độ ăn uống của bạn trong khi bạn có một vết loét. Trái cây và rau quả cũng chứa chất chống oxy hóa, mà cũng có thể rất hữu ích khi bạn có một vết loét.
Thực phẩm giàu chất xơ: ăn một chế độ ăn uống có nhiều chất xơ cũng có thể giúp dạ dày của bạn chữa lành khi bạn có một vết loét. Các loại thực phẩm có nhiều chất xơ bao gồm trái cây, rau, đậu và các loại ngũ cốc như gạo, bánh mì và mì. Những loại này có chứa các vitamin và chất dinh dưỡng quan trọng mà dạ dày cần để phục hồi các vết loét. Chất xơ cũng có thể giúp hấp thụ một số axit dư thừa. 
Một số thực phẩm với lượng chất xơ cao có thể gây ra khí và đầy hơi, nhưng điều đó không có nghĩa là bạn nên tránh chất xơ trong khi bạn có một loét. Khi tiêu thụ các chất xơ nếu thấy hiện tượng khó chịu thì nên dừng lại, còn nếu không có hiện tượng khó chịu thì vẫn có thể ăn được bình thường.
Làm gì để phòng tránh những cơn đau dạ dày?
Tập thể dục giúp phòng ngừa bệnh dạ dày.
Phòng ngừa
Phòng ngừa viêm dạ dày tùy thuộc vào nguyên nhân gây viêm. Để giúp ngăn ngừa viêm dạ dày, và các rối loạn tiêu hóa.
Ăn nhiều bữa nhỏ để đệm cho chất tiết acid dạ dày. Ngoài ra, tránh ăn các thực phẩm kích thích như gia vị, cam quít hoặc thực phẩm có nhiều gia vị nếu bạn bị viêm hoặc loét dạ dày...; hạn chế hoặc tránh uống rượu; không hút thuốc lá; thay thuốc giảm đau. Nếu có thể, tránh dùng thuốc chống viêm không steroid như: aspirin, ibuprofen... Thay vào đó, thay thuốc giảm đau chứa acetaminophen.
Tuân thủ khuyến nghị của bác sĩ. Bác sĩ có thể khuyên bạn dùng thuốc giảm độ axít dạ dày hoặc thuốc chẹn axít không cần đơn để ngăn ngừa tái phát viêm dạ dày.
Rèn luyện thói quen tốt
Thực hiện thói quen ăn uống lành mạnh: ăn các khẩu phần vừa phải, ăn nhiều bữa và thư giãn khi ăn.
Duy trì cân nặng khỏe mạnh: ợ nóng, chướng bụng và táo bón thường gặp nhiều hơn ở người thừa cân.
Tập luyện nhiều: tập luyện làm tăng nhịp thở và nhịp tim, là hoạt động có lợi nhất mà bạn có thể làm để tiêu hóa tốt. Tập thể dục kích thích hoạt động của các cơ đường ruột, giúp đẩy chất cặn bã xuống ruột nhanh hơn. Cố gắng tập luyện ít nhất 30 phút vào hầu hết các ngày trong tuần.
Hạn chế stress: stress làm tăng sản sinh axít dạ dày và tiêu hóa chậm, gây rối loạn dạ dày.


Thứ Tư, 16 tháng 9, 2015

Loét dạ dày - tá tràng

Nguyên nhân gây bệnh
Cho đến nay chưa tìm ra nguyên nhân chung cho bệnh loét dạ dày - tá tràng, nhưng người ta thấy có một số yếu tố nguyên nhân can dự: di truyền; yếu tố tâm lý đặc biệt là các sang chấn tâm lý và áp lực công việc; sự rối loạn vận động dạ dày ruột, đặc biệt là sự rối loạn quá trình làm vơi dạ dày; các yếu tố môi trường như thức ăn, thuốc lá và các thuốc; nhiễm vi khuẩn HP…
Thuốc: các thuốc giảm đau chống viêm nhóm axit acetylsalicylic (như aspirin); các loại thuốc chống viêm, chữa khớp (như corticoid); các thuốc hormone (như sterol)… là các thuốc chủ yếu dễ gây ra tổn thương niêm mạc dạ dày. Do đó với các thuốc này nếu cần thiết phải dùng thì nên chú ý tới liều lượng, liệu trình dùng thuốc và thời gian và thời điểm uống thuốc.
Loét dạ dày - tá tràng
Vi khuẩn Helicobacter pylori (HP): là loại xoắn khuẩn, sống trên lớp nhày niêm mạc dạ dày và gây ra bệnh này. Trong số những người bị viêm loét dạ dày thì tỉ lệ do vi khuẩn này gây ra tới 70 – 90%. Vi khuẩn thường lây truyền qua đồ đựng thực phẩm, bàn chải đánh răng và nụ hôn. Ăn thực phẩm không sạch cũng là một trong những nguyên nhân lây nhiễm vi khuẩn này.
Căng thẳng kéo dài: trạng thái căng thẳng, buồn phiền, tức giận sẽ nhanh chóng được truyền tới các cơ quan trong cơ thể, ảnh hưởng đến hệ thần kinh thực vật gây mất cân bằng cho chức năng dạ dày, đường ruột; axit hydrochloric và pepsin tăng tiết khiến cho huyết quản dạ dày, môn vị co thắt, tầng bảo vệ niêm mạc dạ dày bị thương tổn, hình thành bệnh viêm loét dạ dày. Người bệnh thường bị đau khi công việc căng thẳng, lo lắng nhiều, buồn rầu, tức giận hoặc sợ hãi.
Chế độ ăn không điều độ: khi đói, axit hydrochloric và các chất xúc tác trong dạ dày ở nồng độ khá cao dẫn tới tình trạng “tự tiêu hóa” niêm mạc. Khi ăn quá no lại dễ làm tổn thương “cơ chế” tự bảo vệ của dạ dày vì dạ dày nở to, thời gian thức ăn lưu lại trong dạ dày lâu. Khi ăn uống thất thường, không đúng bữa, không được nghỉ ngơi, bệnh sẽ dễ phát và tái phát. Đồng thời còn có thể kích thích niêm mạc dạ dày bài tiết quá nhiều axit hydrochloric, gây viêm loét dạ dày. Ăn nhanh hoặc vừa ăn vừa xem ti vi cũng là một trong những nguyên nhân gây viêm loét dạ dày. Nếu khi ăn nhai không kỹ, ăn nhanh nuốt vội, thức ăn chưa được nghiền nhỏ thì sẽ tăng thêm gánh nặng cho dạ dày, kéo dài thời gian lưu giữ thức ăn trong dạ dày, dẫn tới tổn thương niêm mạc dạ dày.
Uống quá nhiều rượu: rượu tác động trực tiếp lên niêm mạc dạ dày. Ngoài ra còn có thể gây ra xơ gan và viêm tuyến tuỵ mãn tính, từ đó làm cho dạ dày tổn thương nặng thêm.
Biểu hiện như thế nào?
Khoảng 20% bệnh nhân bị loét dạ dày - tá tràng nhưng không có triệu chứng. Còn lại, các biểu hiện của bệnh là đau ở vùng thượng vị là chủ yếu, đau có tính chất đau từng đợt, kéo dài 2 – 8 tuần, cách nhau vài tháng đến vài năm, gia tăng theo mùa nhất là vào mùa đông; đau liên quan đến bữa ăn, thường đau nhiều sau bữa ăn trưa và ăn tối. Đau được làm giảm bằng thức ăn. Tuy nhiên càng về sau thì tính chất chu kỳ của đau có thể mất đi. Bệnh được chẩn đoán khi có kết quả của nội soi dạ dày. Ngoài ra, bệnh nhân có thể buồn nôn, đầy bụng, chậm tiêu. Nếu uống thuốc chữa dạ dày thì giảm đau rõ rệt. Nếu người bệnh đi đại tiện phân đen như bã cà phê, có mùi khắm thì có thể đã bị chảy máu dạ dày. Khi bị viêm loét dạ dày, bệnh nhân cũng bị mất ngủ hoặc giấc ngủ bị gián đoạn, hay chập chờn về đêm.
Ổ loét có thể gặp ở mọi nơi trên dạ dày và tuỳ theo vị trí ổ loét mà có các tên gọi khác nhau như loét hang vị, loét bờ cong lớn, loét bờ cong nhỏ…; nhưng thường gặp loét ở hang vị nhiều hơn ở thân vị, ở bờ cong nhỏ nhiều hơn ở bờ cong lớn.
Chẩn đoán hiện nay chủ yếu dựa vào nội soi, trong một vài trường hợp đặc biệt có thể tiến hành sinh thiết.
Biến chứng gì có thể xảy ra?
Trong phần lớn các trường hợp loét tự lành sẹo sau 2 - 3 tháng, nhưng trong 2 năm đầu tái phát trên 50% các trường hợp, tần suất tái phát trung bình là 2 – 3 năm và càng về sau càng giảm dần. Nếu không được điều trị đúng, sẽ các các biến chứng có thể xảy ra như chảy máu, thủng, hẹp môn vị, loét ung thư hoá - tỷ lệ ung thư hoá thấp 5 – 10% và thời gian loét kéo dài trên 10 năm. Hiện nay người ta thấy rằng viêm hang vị mạn tính thể teo thường đưa đến ung thư hoá nhiều hơn (30%) còn loét tá tràng hiếm khi gặp ung thư hoá.
Phòng ngừa bệnh ra sao?
Ngày nay nhờ sự tiến bộ của y học và công nghệ dược, nhiều thuốc điều trị loét ra đời đã làm giảm tỷ lệ tái phát và các biến chứng. Ngoài việc sử dụng các thuốc điều trị loét theo đơn của bác sĩ việc tránh tiếp xúc với các yếu tố như các chất kích thích, các sang chấn tâm lý, có kế hoạch làm việc và nghỉ ngơi hợp lý… là một điều kiện hết sức quan trọng đóng góp vào sự thành công của quá trình điều trị.
Dùng thức ăn mềm, cần ưu tiên các thức ăn tinh bột có tác dụng bọc, hút, thấm để bảo vệ niêm mạc dạ dày, giúp giảm kích thích tiết dịch vị, trung hòa acid như sữa, gạo nếp, bánh nếp, bánh mì, bánh bột năng, cơm, bánh quy…
Tránh dùng các loại kích thích dạ dày tiết nhiều dịch vị như: ớt, tiêu, giấm, cà ri, mù tạc, trái cây chua, sữa chua, dưa hành, dưa cà muối chua, nước dùng thịt, thức ăn lên men như mắm, tương, chao; thịt nguội chế biến sẵn… Hạn chế các món rán, xào.

Chất béo từ cá được khuyên sử dụng vì cung cấp nhiều acid béo thiết yếu và năng lượng cho cơ thể, thức ăn giàu kẽm (hàu, sò, thịt, cá…) sẽ giúp mau lành vết thương, vitamin A giúp sinh trưởng lớp tế bào biểu mô của niêm mạc dạ dày.


Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015

Chăm sóc người bệnh tại nhà đúng cách

Khi được điều trị bệnh bằng thuốc theo đơn chỉ dẫn của bác sĩ , bệnh nhân được về nhà. Một trong những điều khiến cả bệnh nhân và người nhà lo lắng là cách chăm như thế nào là đúng, là hợp lý. Vì trên thực tế thì việc chăm sócngười bệnh đúng cách sẽ giúp người bệnh mau khỏe, giảm thiểu biến chứng…Cách chăm sóc người bệnh tại nhà cần tập trung vào các vấn đề chính sau đây:
Chọn chỗ ở có lợi cho người bệnh: Người bệnh rất cần được nghỉ ngơi nên phải chọn chỗ yên tĩnh, bảo đảm thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông. Nếu trời lạnh hoặc khi bệnh nhân rét run thì phải đắp chăn bảo đảm đủ ấm; Nếu bệnh nhân bị sốt thì nới lỏng quần áo, không nên đắp chăn. Nếu bệnh nhân mắc các bệnh dễ lây truyền thì cố gắng cách ly trong một khu riêng biệt, nơi ít người qua lại nhất trong nhà bạn, nếu không có điều kiện thì cố giữ người ốm cách với người khác tổi thiểu là 2m
Chăm sóc người bệnh tại nhà đúng cách
Người nhà cần lắng nghe thầy thuốc dặn dò trước khi đưa người bệnh về chăm sóc tại gia đình. Ảnh: TM
Chọn thức ăn, đồ uống thích hợp: Về nguyên tắc, cho dù bệnh nhân bị bệnh gì thì việc ăn uống phải bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu hóa, giàu chất dinh dưỡng và phù hợp với từng loại bệnh. Trừ một số bệnh đòi hỏi phải ăn kiêng rất nghiêm ngặt như bệnh tiểu đường, bệnh viêm loét dạ dày-tá tràng, bệnh tim mạch...thì việc ăn uống kiêng khem là không cần thiết vì bệnh nhân sẽ bị thiếu chất dinh dưỡng làm cho bệnh lâu khỏi hoặc càng nặng thêm. Đối với người lớn, bình thường mỗi ngày cần khoảng 2 lít nước (kể cả ăn và uống), vì vậy phải khuyến khích bệnh nhân uống đủ nước (nhất là bệnh nhân bị sốt cao, sốt liên tục, tiêu chảy). Khi bị mất nước, uống orerol hoặc nước gạo rang là tốt nhất. Nếu bệnh nhân chán ăn thì phải cho ăn thành nhiều bữa nhỏ, nước uống cũng nên uống từng ngụm nhỏ và uống làm nhiều lần. Tốt nhất là nấu cháo đặc hoặc súp có trứng, đậu, thịt, cá v.v. và thường xuyên đổi bữa để người bệnh đỡ chán ăn, ăn được nhiều.
Chăm sóc và vệ sinh cá nhân: Khi người bệnh không đeo khẩu trang thì bản thân người chăm sóc nên đeo khẩu trang y tế hoặc dùng khăn che miệng, mũi mỗi khi chăm sóc người bệnh. Bạn cũng phải rửa tay đúng và sạch bằng xà bông tiệt trùng sau mỗi lần tiếp xúc với bệnh nhân để tránh lây lan cho người khác. Khuyến khích bệnh nhân đi lại, vận động nhẹ nhàng. Nếu người bệnh quá mệt, buộc phải nằm bất động, ngồi một chỗ hoặc bị liệt không tự xoay trở người được thì phải massage liên tục, thường xuyên trở mình cho bệnh nhân để tránh bị loét ở những điểm bị tì, đè như mông, vai... Ngoài ra thường xuyên xoay trở bệnh nhân còn tránh được viêm phổi, một nguy cơ thường thấy đối với người bệnh phải nằm dài ngày. Vấn đề vệ sinh cá nhân rất quan trọng đối với người ốm nặng, phải nằm nhiều. Ngoài vệ sinh răng miệng thường xuyên thì nên tắm rửa cho bệnh nhân hàng ngày. Nếu không có điều kiện thì lau người bằng nước ấm vài lần mỗi ngày. Lưu ý khi tắm rửa cho bệnh nhân phải tránh nơi gió lùa, tắm xong phải lau khô người ngay.

Ghi chép để biết sự tiến triển của bệnh: Khi chăm người ốm tại nhà, bạn nên tự quy định giờ giấc cụ thể và tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định đó. Bất cứ một sự thay đổi nào của người ốm sẽ được phát hiện sớm nếu bạn ghi chép đầy đủ 4 lần mỗi ngày các vấn đề sau: nhiệt độ của cơ thể; mạch đập trong một phút; nhịp thở trong một phút; số lần đại tiện, tiểu tiện trong 1 ngày. Qua bản ghi chép này chúng ta sẽ thấy sức khỏe của người bệnh đang tiến triển tốt lên hoặc đang xấu đi. Việc cho người bệnh uống thuốc cũng phải được ghi chép đầy đủ để đảm bảo người ốm được uống đúng chỉ định của bác sĩ, đúng liều lượng và đúng giờ. Trong quá trình chăm sóc người bệnh nếu có các dấu hiệu xấu như ho ra máu; khó thở; một hoặc nhiều ngày không đi tiểu; nôn ra máu hoặc đại tiện phân đen như hắc-ín (nhựa đường)... thì phải chuyển ngay bệnh nhân tới cơ sở y tế để được cấp cứu kịp thời.