Từ xa xưa, y học cổ truyền phương Đông rất coi trọng vấn đề
giấc ngủ, coi giấc ngủ là bạn đồng hành của sức khỏe, là một trong hai nhiệm vụ
lớn nhất của phép dưỡng sinh cùng với chuyện ăn uống.
Sách Dưỡng sinh tam yếu, một trong những trước tác nổi tiếng
về dưỡng sinh đã viết: “Giấc ngủ là niềm vui lớn nhất của đời người”, “giấc ngủ
là liều thuốc bổ của tự nhiên”.
Giấc ngủ là gì?
Trước hết, Đông y cho rằng: sự thay đổi giấc ngủ của con
người lấy sự vận hành của doanh khí và vệ khí làm cơ sở, nhất là vệ khí. Đây là
hai thứ vật chất cùng nguồn mà khác dòng. Dinh khí là là tinh khí của đồ ăn
thức uống, bắt nguồn ở tỳ vị mà ra, thuộc âm, tính nhu nhuận nên đi trong lòng
mạch. Vệ khí là thứ khí mạnh trong trong đồ ăn thức uống, thuộc dương, tính
cương cường lưu lợi nên đi ở ngoài lòng mạch. Nghiên cứu quy luật vận hành của
vệ khí người ta thấy nó có quan hệ mật thiết với việc ngủ thức đúng giờ của con
người. Sách Nội kinh linh khu thiên Vệ khí hành viết : “Dương chủ ngày, âm chủ
đêm. Sự vận hành của vệ khí một ngày một đêm là 50 vòng, ban ngày vận hành 25
vòng ở dương, ban đêm vận hành 25 vòng ở âm. Cho nên, hết âm thì dương xuất
hiện ở mắt, mắt mở thì khí chạy lên đầu, từ cổ xuống đường kinh Túc thái dương,
vì vậy người ta ngủ thức có lúc sớm lúc muộn vậy”. Hai chữ “mở mắt” nghĩa là
thức dậy. Sách Linh khu thiên Dinh vệ sinh hội cũng viết: “Vệ khí vận hành 25
lần ở âm, 25 lần ở dương, phân chia đêm ngày, khí dương vận hành thì thức, khí
âm vận hành thì ngủ”. Sách Linh khu đại hoặc luận viết: “Người bị bệnh không
ngủ được vì vệ khí thường ở dương nên khí dương thịnh, vệ khí không thường ở âm
nên âm hư, vì vậy mà không ngủ được”, điều này nói rõ nguyên nhân mất ngủ là do
vệ khí không vào âm được.
Thứ đến, Đông y cho rằng, giấc ngủ là kết quả của sự giao
hòa âm dương. Sách Nội kinh linh khu, thiên Khẩu vấn viết: “Âm khí hết mà dương
khí thịnh thì thức, dương khí hết mà âm khí đầy thì ngủ vậy”. Điều đó có nghĩa
là, con người sau một ngày hoạt động, khí dương suy yếu, cần phải được nghỉ
ngơi.
Thời gian ngủ bao nhiêu là đủ?
Điều này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như độ tuổi, thể
chất, nghề nghiệp... Ví như, trẻ sơ sinh có thời gian ngủ dài nhất, cần khoảng
20 giờ trong một ngày, trẻ từ 1 - 2 tuổi khoảng 16 giờ, từ 3 - 4 tuổi khoảng 14
giờ, 5 - 7 tuổi khoảng 12 giờ, 8 - 12 tuổi: 9 - 11 giờ, 16 - 20 tuổi: 8 - 9
giờ, người lớn 7 - 8 giờ là đủ; người trên 60 tuổi cần kéo dài thời gian ngủ,
người 60 - 70 tuổi cần ngủ mỗi ngày 9 giờ, từ 70 - 90 tuổi cần 10 giờ, trên 90
tuổi: 10 - 12 giờ...
Hay như, thể chất khác nhau thì thời gian ngủ cũng không
giống nhau. Sách Hoàng đế nội kinh viết: “Hoàng đế hỏi Du Chi Bá rằng: người
ngủ nhiều khí của họ ra sao? Chi Bá đáp: người có dạ dày to mà da khô ráp, dạ
dày to thì vệ khí lưu lại lâu, da khô ráp thì cơ bắp không lỏng, vệ khí vận
hành chậm, ở âm lâu, vệ khí không tinh thì buồn ngủ, nên thường ngủ nhiều vậy.
Nếu dạ dày nhỏ, da mềm nhẵn thì vệ khí lưu lại ở dương lâu, nên ngủ ít vậy”.
“Dạ dày to” mà Chi Bá nói là chỉ người béo, “dạ dày nhỏ” là chỉ người gầy. Trên
thực tế, người béo thường ngủ nhanh và nhiều hơn người gầy.
Có nhiều người nghĩ rằng, ngủ nhiều thì hẳn có lợi cho sức
khỏe, nhưng thực chất không phải như vậy. Đông y cho rằng: ngủ lâu thương tổn
đến khí, vì ngủ lâu khí huyết khó lưu thông, công năng hoạt động của các tạng
phủ bị suy giảm, khiến cho sức khỏe giảm sút, cơ thể dễ phát sinh bệnh tật.
Khi ngủ dùng gối như thế nào cho hợp lý?
Nhiều người cho rằng, ngủ gối đầu cao là tốt như phương ngôn
có câu “gối cao hết buồn”, nhưng thực tế không phải như vậy. Bởi lẽ, khi ngủ
gối đầu quá cao sẽ làm cho đầu và thân người có góc gập lớn, ảnh hưởng đến giấc
ngủ, gây co cứng cơ ở cổ và gáy tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thoái hóa
cột sống cổ phát triển nhanh và nặng hơn. Song, gối quá thấp cũng không phải là
tốt vì dễ gây nên tình trạng huyết ứ, mắt và mặt dễ bị sưng phù, giấc ngủ nhiều
mộng mị. Sách Lão lão hằng ngôn đã viết: “Độ cao thấp khi gối đầu, khi nằm ngửa
cần gối cao bằng một nắm tay, khi nằm nghiêng cần gối cao một nắm tay rưỡi, độ
cao cụ thể còn phải dựa vào hình thể cá nhân mà quyết định”.
Về độ cứng của gối, sách Lão lão hằng ngôn cũng khuyên: “Chớ
dùng gối cứng”, vì khi dùng gối cứng, diện tích tiếp xúc với đầu nhỏ, áp lực tăng
lên khiến da đầu dễ bị tổn thương, nhưng nếu gối quá mềm sẽ khó giữ được độ cao
nhất định, cơ cổ dễ mỏi, ảnh hưởng đến hô hấp, rất bất lợi cho giấc ngủ. Hơn
nữa, gối ngủ cần dài hơn một chút, sách Lão lão hằng ngôn viết: “Người già khi
ngủ cũng cần gối dài”, vì gối dài sẽ tự do thoải mái trở mình mà không lo đầu
rơi khởi gối, tư thế nằm luôn được thoải mái.
Về ruột gối, Đông y cho rằng cùng là một nhân tố ảnh hưởng
không nhỏ đến chất lượng giấc ngủ. Từ xa xưa, cổ nhân đã chú ý tới việc nhồi
ruột gối bằng các lá cỏ, bông vải để có được độ mềm thích hợp và phát huy tác
dụng phòng chống bệnh tật của các dược liệu, phương pháp này được gọi là “Dược
chẩm liệu pháp” (gối thuốc). Ví như, dùng cỏ thơm, hoa cúc dại hoặc bã trà phơi
khô làm ruột gối rất có lợi cho giấc ngủ. Ruột gối bằng vỏ kiều mạch có độ cứng
thích hợp, tính đàn hồi vừa phải, đông ấm hè mát. Ruột gối bằng bông thì giữ
nhiệt, mùa đông thì ấm áp nhưng mùa hè thì những người bị cao huyết áp, can hỏa
vượng chớ nên dùng. Ruột gối bằng vỏ đậu xanh dùng vào mùa hè thì rất thích hợp
vì có tác dụng tỏa nhiệt, vừa trị đau đầu lại làm sáng mắt. Nhà dược học trứ
danh Lý Thời Trân có ghi lại cách làm “gối sáng mắt” trong Bản thảo cương mục:
“Vỏ khổ kiều, vỏ đậu xanh, vỏ đậu đen, quyết minh tử, hoa cúc làm ruột gối có
tác dụng làm sáng mắt”. Tương tự như vậy, sách Diên niên bí lục có ghi chép về
“gối hoa cúc”, sách Tuân sinh bát tiên viết về “gối từ thạch” đều có tác dụng
làm sáng mắt và an thần.
Tư thế nằm ngủ ra sao để có lợi cho sức khỏe?
Thông thường, người ta không thể giữ mãi một tư thế ngủ suốt
đêm, kết quả thống kê cho thấy: mỗi đêm, người ta thường trở mình từ 20 - 45
lần. Tuy nhiên, theo thói quen, mỗi người vẫn có một tư thế nằm ngủ chủ đạo, có
người nằm thẳng đơ, có người thích nằm sấp úp mặt vào gối, có người nằm co như
con tôm hoặc nằm giang tay duỗi chân hoặc khoanh tay lên ngực mà ngủ. Vậy, tư
thế nằm ngủ nào là có lợi nhất cho sức khỏe?
Dân gian có câu: “Đứng như tùng, ngồi như chuông, nằm như
cung”, nghĩa là dù bất cứ trong trạng thái nào người ta cũng phải giữ được cho
mình một tư thế tốt nhất. Trong sách Luận ngữ, Khổng Tử đã khuyên là “tầm bất
thi” (không nằm như xác chết). Sách Thiên kim yếu phương cũng viết: “Co gối nằm
nghiêng, lợi cho khí lực”. Theo các nhà dưỡng sinh cổ truyền, tư thế nằm ngủ
tốt nhất là nằm ngiêng về bên phải, thân thể co tự nhiên. Bởi lẽ, với tư thế
này cơ bắp toàn thân được thư giãn triệt để, các cơ quan tạng phủ luôn được giữ
trong vị trí tự nhiên, khí huyết lưu thông được dễ dàng nhất, rất có lợi cho
việc giải trừ mệt mỏi, phục hồi và nâng cao sức khỏe.
|
|
Nếu nằm ngủ ở tư thế ngửa hay sấp, thân mình và hai chân
luôn ở vị trí duỗi thẳng, khi đó cơ bắp không được thư giãn đầy đủ. Vả lại, khi
ngửa mặt lên, lúc ngủ say, cuống lưỡi sẽ hạ xuống, nước bọt dễ lọt vào khí quản
gây ho sặc hoặc tạo ra tiếng ngáy rất khó chịu cho người khác. Khi nằm sấp,
ngực bị đè ép khiến cho hoạt động của tim và phổi không được thuận lợi, mũi bị
gối lấp kín buộc người ta phải nghiêng đầu sang một bên tạo điều kiện thuận lợi
cho việc phát sinh chứng lạc chẩm (vẹo cổ, đau gáy). Với trẻ em, tư thế nằm sấp
khi ngủ trong một thời gian dài khiến cho xương mặt dễ bị biến dạng ảnh hưởng
đến thẩm mỹ do xương mặt và vòm họng của chúng chưa phát triển đầy đủ. Nếu nằm
nghiêng bên trái, tim bị đè nén ảnh hưởng đến tuần hoàn và với người có bệnh lý
dạ dày thì bệnh lâu khỏi, thậm chí có thể nặng lên.
Tuy nhiên, tư thế nằm ngủ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
sinh bệnh lý. Ví như, phụ nữ có thai không nên nằm ngửa vì với tư thế này tử
cung sẽ đè lên các tĩnh mạch làm cho lượng máu về tim giảm đi khiến lượng oxy
cung cấp cho não cũng theo đó suy giảm làm phát sinh các chứng tức ngực, chóng
mặt, buồn nôn, khó thở, thậm chí tụt huyết áp; người bị bệnh tim nặng, viêm khí
phế quản, hen phế quản chỉ có thể chọn tư thế nửa nằm nửa ngồi; người bị bệnh
viêm gan cấp tính có triệu chứng đau âm ỉ vùng hạ sườn phải thì buộc lòng phải
chọn tư thế nằm ngủ nghiêng về bên trái...
Hướng nằm ngủ thế nào
là tốt nhất?
Theo Đông y, để làm đúng phép dưỡng sinh, trước hết cần
tránh nằm ngủ đầu quay về hướng bắc. Bởi lẽ, phương bắc là dương ở trong dương,
thuộc hành thủy, chủ hàn, trong khi đó đầu người lại là nơi hội tụ của các kinh
dương, nơi chứa đựng nguyên thần. Nếu nằm quay đầu về hướng bắc thì khí âm hàn
sẽ làm tổn thương phần dương của cơ thể. Chương Đạo tâm dưỡng sinh sách Thiên
kim yếu phương viết: “Đừng nằm quy đầu về hướng bắc và chớ đặt giường phía
tường bắc”. Sách Lão lão hằng ngôn cũng viết: “Chớ nằm quay đầu về hướng bắc
nhằm tránh khí âm”.
Thứ nữa, theo quan điểm “thiên nhân tương ứng” của y học cổ
truyền phương Đông, nên chọn hướng nằm ngủ theo mùa mà thuận theo tự nhiên. Ví
như, khí của mùa xuân vượng ở phương đông thì mùa này nên nằm ngủ nên quay đầu
về hướng đông. Tương tự như vậy, mùa hè nằm đầu quay về hướng nam, mùa thu quay
về hướng tây và mùa đông quay về hướng bắc.
Cuối cùng, như sách Bảo sinh tâm giám viết: “Nằm ngủ, xuân
hè nên quay đầu về hướng đông, thu đông nên quay về hướng tây. Cơ sở của lý
thuyết này dựa theo nguyên tắc dưỡng sinh trong y thư cổ Hoàng đế nội kinh: “Xuân hạ dưỡng dương, thu
đông dưỡng âm”. Mùa xuân và mùa hè, dương khí thịnh vượng, khí dương bốc lên,
mà phương đông thuộc dương chủ thăng, đầu quay về hướng đông nhằm ứng với khí
bốc lên mà dưỡng dương. Mùa thu đông thuộc âm, âm khí thu tàng, tiềm ẩn, mà
phương tây thuộc âm chủ về giáng, nằm quay đầu về phía tây nhằm ứng với khí thu
về mà dưỡng âm.
ThS. HOÀNG KHÁNH TOÀN
Giấc ngủ có ý nghĩa như thế nào?
Theo Đông y, giấc ngủ chính là một trong những nhân tố hết
sức quan trọng để duy trì cân bằng âm dương trong nhân thể. Ban ngày thức là
dương, ban đêm ngủ là âm, ngày đêm âm dương cân bằng thì mới đem lại sức khỏe
sinh lý cho con người. Nhờ đó mà cơ thể mới mới sinh trưởng đầy đủ, các tạng
phủ được nghỉ ngơi, giải trừ mệt mỏi, khôi phục sức khỏe sau một ngày hoạt động
và làm việc mệt mỏi. Nếu dương thịnh gây mất ngủ, âm thịnh gây ngủ nhiều, vệ
khí vận hành trái thường đều trái với quy luật của tự nhiên, khiến khí huyết,
cơ quan tạng phủ, đặc biệt là tạng tâm và não, lâm vào tình trạng rối loạn, từ
đó là khởi nguồn phát sinh các tật bệnh khác nhau.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét