Văn phòng Diện Chẩn Sống Khỏe_ Khu nhà 102 Ngõ 95 Chùa Bộc-Đống Đa-Hà Nội _ ĐT : 0906143408

Hướng dẫn lý thuyết và thực hành cơ bản cho những quí vị thực sự yêu thích Diện Chẩn . Hãy gọi cho chúng tôi để biết lịch .

Tư vấn sức khỏe , chẩn bệnh đưa ra phác đồ miễn phí.

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2020

Xoa bóp trị đau xương khớp

 Đông y cho rằng tất cả các bệnh có đau nhức ở khớp xương, có sưng nóng đỏ hay chỉ tê, nặng tại khớp đều nằm trong phạm trù chứng tý.

Tý có nghĩa là tắc nghẽn không thông. Đông y có nhiều phương pháp điều trị chứng tý, trong đó xoa bóp, bấm huyệt là phương pháp dễ làm và có hiệu quả cao trong phòng và điều trị chứng bệnh này.

Mỗi khi thời tiết thay đổi, nhất là khi trái gió trở trời kéo theo hàng loạt sự thay đổi của các yếu tố bên trong cơ thể như độ nhớt của máu, độ nhớt dịch khớp, sự kết tủa các muối, thay đổi nồng độ các hóa chất trung gian trong cơ thể, thay đổi vận mạch... Chính sự thay đổi nội môi này góp phần làm cho các khớp trở nên cứng hơn, khó cử động hơn, kèm theo xuất hiện các đợt đau xương khớp. Xoa bóp là một biện pháp trị liệu đơn giản và có hiệu quả trong phòng và trị bệnh xương khớp.

Tự xoa bóp điều trị đau vai gáy

Dùng lòng bàn tay xát lên vùng sau cổ làm cho vùng da có cảm giác ấm, nóng lên.

Dùng tay bóp nắn các cơ quanh cột sống cổ, vai: Ngón cái một bên, các ngón còn lại một bên bóp nắn nhẹ nhàng quanh vùng cổ vai cho đến khi vùng cổ vai hơi ửng đỏ.

Tìm điểm đau và day điểm đau: Dùng ngón tay day vào chỗ đau thời gian mỗi điểm đau loại này vùng cổ vai khoảng 1 phút là được. Kiểm tra cơ ở quanh bả vai nếu thấy co cứng thì ta bấm, bật cơ, day nhẹ. Mỗi lần xoa bóp 10-15 phút vùng cổ gáy, có thể tự tay xoa bóp hay nhờ người khác thực hiện.

Xoa bóp trị đau xương khớp

Bấm huyệt Phong trì  điều trị bệnh xương khớp

Bấm huyệt Phong trì (ở chỗ lõm của bờ trong cơ ức đòn chũm và bờ ngoài cơ thang bám vào đáy hộp sọ); huyệt Đại Chùy (ngồi hơi cúi đầu, quay cổ qua lại phải trái, u xương nào cao nhất động đậy nhiều dưới ngón tay là đốt cổ 7, huyệt này nằm ngay chỗ lõm phía dưới đốt sống cổ số 7); huyệt Kiên Tỉnh (giao điểm của đường thẳng ngang qua đầu ngực với đường ngang nối huyệt Đại Chùy và điểm cao nhất của đầu ngoài xương đòn, ấn vào có cảm giác ê tức).

Tập vận động khớp cổ ở tư thế ngồi: Quay cổ qua lại, nghiêng cổ qua bên trái - phải, cúi ngửa cổ ra trước- sau, và tổng hợp các động tác cổ vừa thực hiện liên tục, nhẹ nhàng tránh làm mạnh đột ngột sẽ gây đau tăng... Mỗi động tác làm 3-5 lần.

Xoa bóp điều trị đau lưng

Nguyên tắc là làm nhẹ nhàng, tăng dần mức độ. Thời gian một lần xoa bóp khoảng 20 phút. Thực hiện các thao tác:

Xoa vùng lưng cho nóng lên: Phương pháp xoa là dùng vân ngón tay, gốc bàn tay hoặc mô ngón tay út, ngón tay cái xoa tròn trên da chỗ đau. Sau đó xát lưng bệnh nhân (dùng cả hai bàn tay xát mạnh vùng lưng, xát cả hai tay ngược chiều nhau, xát ngang, xát dọc). Mỗi động tác xoa xát làm khoảng 2 phút để làm ấm da.

Day rồi đấm hai bên thắt lưng 3 lần: Thao tác day như sau, dùng gốc bàn tay, mô ngón tay út, mô ngón tay cái, hơi dùng sức để ấn xuống da người bệnh và di động theo đường tròn. Lăn: Dùng mô ngón tay út, 4 ngón lăn dọc theo hai khối cơ cạnh cột sống xuống hông trong thời gian 2-3 phút, sau đó lăn tiếp từ hông xuống chân.

Dùng cả hai bàn tay, ngón cái và các ngón khác bóp vào cơ lưng, trọng tâm nơi bị co cứng.

Tìm điểm ấn đau ở lưng, day từ nhẹ đến mạnh. Thao tác thực hiện như sau: Dùng ngón tay cái, gốc bàn tay, mô ngón tay út và mô ngón tay cái ấn vào một nơi hoặc vào huyệt. Những vùng gân cơ bị co cứng làm động tác bật.

Kéo dãn cột sống thắt lưng: Người bệnh hai tay nắm đầu giường. Người thao tác đứng phía dưới chân người bệnh, cầm hai cổ chân người bệnh từ từ kéo dãn xuống trong khoảng 1 phút, sau đó dùng ngón cái gãi gãi vào chỗ đau của người bệnh khoảng 1 phút.

Nắm vào đùi bên chân đau của người bệnh nâng lên cao về sau, dùng gốc bàn tay kia day lăn ở điểm ấn đau và quanh chỗ đau khoảng 3 phút.

Nắm véo cơ hai bên cột sống thắt lưng, véo huyệt a thị khoảng 2 phút: Người chữa dùng ngón cái và bốn ngón còn lại kẹp giữ vị trí cần tác động đồng thời vê đi vê lại.

Day ấn các huyệt thận du, đại trường du, uỷ trung, thừa sơn mỗi huyệt khoảng 1 phút.

Phân hợp hai bên thăn lưng 3 lần. Véo cột sống lưng 1-2 lần. Phát huyệt mệnh môn 3 cái.

Bệnh nhân nằm ngửa, đùi vuông góc với thân, cẳng chân vuông góc với đùi, giãn lỏng các khớp gối và khớp háng. Thầy thuốc xoay hai chân bệnh nhân theo chiều phải- trái và ngược lại, đổi chiều xoay 5 lần. Sau đó dùng một tay cố định vai bệnh nhân, tay kia đẩy vào hông bệnh nhân (trong tư thế gấp đùi vào bụng) sang phía đối diện với vai bệnh nhân được cố định.

Các tư thế yoga cơ bản cho người mới tập

  Để việc tập luyện đạt hiệu quả cao, người mới tập yoga nên thực hiện theo những lời khuyên dưới đây và tập theo các bài tập phù hợp.

Lời khuyên cho người mới tập yoga

Tập yoga tốt nhất vào sáng sớm hoặc tối muộn. Sáng sớm là lúc cơ thể người tập tỉnh táo để dự trữ năng lượng cho một ngày làm việc. Tối muộn là thời gian cơ thể cần được nghỉ ngơi. Đây là những thời điểm lý tưởng để tập yoga nhẹ nhàng thư giãn, giúp lưu thông khí huyết. Bạn nên tập luyện ở những nơi thoáng mát, dễ chịu, lúc đó cơ thể sẽ giải phóng và loại bỏ căng thẳng.

Người bắt đầu tập cần tìm cho mình người hướng dẫn có kinh nghiệm để được chỉ dẫn từ những động tác cơ bản đến nâng cao đúng tư thế, giúp tránh chấn thương trong quá trình tập luyện. Nên tập đúng bài bản, có thời gian khởi động hợp lý để hạn chế một số tổn thương trong lúc tập. Các cơ được làm nóng sẽ dần giãn ra để thích nghi với cường độ tập tăng dần. Muốn tập yoga có hiệu quả cần phải tập chậm rãi, kiên trì và cố gắng thật nhiều. Bạn không nên nôn nóng muốn đạt hiệu quả thật nhanh mà mạo hiểm thực hiện những động tác khó hay tăng thời gian tập luyện... Sự vội vàng này chẳng những không có kết quả như mong muốn mà còn gây chấn thương cho cơ thể, làm mất ngủ, ảnh hưởng tâm lý...

Người mới tập yoga khi gặp một số triệu chứng như đau ngực, nhịp tim không đều, thở dốc hay choáng váng, chóng mặt, nên ngưng tập ngay và hỏi ý kiến giáo viên hướng dẫn để điều chỉnh nhịp thở phù hợp. Cách thở đúng là hít vào bằng mũi và thở ra cũng bằng mũi. Hít thật sâu và thở dài để tăng lượng oxy vào máu và các cơ trong cơ thể.

Tư thế yoga cơ bản nhất cho người mới tập

Tư thế yoga quả núi (Mountain Pose): 

Đứng thẳng, hai chân chụm lại, thả lỏng vai, trọng lượng phân bố đều vào 2 lòng bàn chân, đặt hai cánh tay ở hai bên. Hít thở sâu và nâng tay lên cao trên đầu, lòng bàn tay hướng vào nhau, giữ cánh tay thẳng với các ngón tay hướng thẳng lên trời. Tập đi tập lại động tác trong 3 phút.

Tư thế yoga chó cúi đầu (Downward Dog): 

Giúp tăng sức mạnh cơ bụng, tác động lên tay và chân. Khi thực hiện tư thế này, toàn bộ trọng lượng cơ thể sẽ dồn lên tay và chân nên sẽ giúp bạn giữ thăng bằng tốt hơn. Hơn nữa, bài tập này giúp cải thiện hệ tuần hoàn, lưu thông máu tốt hơn, hệ tiêu hóa hoạt động dễ hơn.

Bắt đầu với tư thế chống tay xuống sàn, đầu gối chống thẳng với hông. Di chuyển tay lên đằng trước thêm vài bước, mở tay rộng ra, ép lòng bàn tay xuống sàn. Cong ngón chân lên và từ từ đẩy hông lên cao để cơ thể tạo thành hình chữ “V” lộn ngược. Đầu cúi xuống để tai chạm vai, bàn chân mở rộng bằng hông, đầu gối hơi uốn cong. Giữ nguyên tư thế trong 3 nhịp thở.

Tư thế yoga chiến binh (Warrior Pose): 

Giúp người tập tăng sức mạnh hai chân, mở ngực, tăng độ dẻo dai và cải thiện thăng bằng. Hơn nữa, bài tập còn giúp giảm đau lưng, tăng khả năng hoạt động của phổi, đặc biệt củng cố sự săn chắc của cánh tay.

Đứng thẳng, di chuyển chân phải sang bên phải sao cho bắp chân và đùi phải tạo góc 90 độ, đồng thời di chuyển nhẹ nhàng chân trái sang bên trái. Đặt tay lên hông và thả lỏng vai, sau đó mở rộng cánh tay sang hai bên, lòng bàn tay úp xuống, mắt nhìn theo tay phải. Giữ nguyên tư thế trong 1 phút, sau đó đổi chân.

Tư thế ngồi yoga xoay người (Seated Twist Pose): 

Nhằm tăng khả năng vận động linh hoạt của lưng và hông, giúp bạn giảm áp lực, tạo sự thoải mái. Bài tập này rất thích hợp cho dân văn phòng sau những giờ làm việc ngồi lì một chỗ, ít vận động cơ lưng, hông.

Ngồi trên sàn, hai chân mở rộng. Vắt chéo chân phải sang bên ngoài đùi trái, cong đầu gối phải. Giữ đầu gối phải hướng lên trên. Đặt khuỷu tay trái ra bên ngoài đầu gối phải và bàn tay phải đặt trên sàn phía sau lưng bạn. Vặn ra sau về phía bên phải hết mức có thể, chỉ di chuyển bụng, hông giữ nguyên trên sàn. Thực hiện trong 1 phút. Sau đó đổi bên và lặp lại.

Tư thế yoga tam giác (Triangle Pose): 

Mở rộng cánh tay sang hai bên, cúi xuống chân phải của bạn. Đứng chân mở rộng khoảng 1m, bàn chân phải xoay ra bên ngoài 90 độ, xoay chân trái ra ngoài 45 độ. Bàn tay phải chạm vào sàn hoặc bàn chân phải hoặc đầu gối, hướng bàn tay trái lên trần nhà, đồng thời hướng mắt về phía trần nhà, giữ tư thế trong 5 nhịp thở. Đổi bên và lặp lại.

Xoa bóp chữa bệnh viêm họng mạn tính

  Viêm họng là bệnh rất hay gặp trong mùa đông do thời tiết lạnh và hanh khô kéo dài. Xoa bóp bấm huyệt là một phương pháp đơn giản của Đông y giúp giảm bớt những triệu chứng của viêm họng mạn và đề phòng những đợt cấp hoặc biến chứng của viêm họng.


Viêm họng là bệnh rất hay gặp trong mùa đông do thời tiết lạnh và hanh khô kéo dài. Bên cạnh đó, hút thuốc lá, nghiện rượu nặng, hoặc phải sống trong môi trường  nhiều bụi, khí độc,… là những yếu tố thuận lợi làm mắc bệnh. Nếu không được điều trị triệt để sẽ dẫn đến viêm họng mạn tính hoặc gây viêm phế quản, phổi... Người bệnh có cảm giác vướng víu, ngứa rát thường xuyên trong họng; ho và khạc đờm (quánh dính hoặc trắng nhầy) thường xuyên, nhất là sáng sớm, khi ngủ dậy.
Do ngứa họng nên người bệnh hay khạc nhổ, ho khan, đặng hắng gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe và công việc. Gặp điều kiện thuận lợi như những ngày trời rét đậm hoặc sức đề kháng của cơ thể giảm sút, bệnh có thể nặng lên thành một đợt viêm họng cấp (người bệnh có đau họng, sốt, ho khạc đờm đặc...).
Theo Đông y, viêm họng  thuộc phạm vi chứng tý, gọi là  hầu tý. Nguyên nhân là do phong hàn, phong nhiệt hoặc khí táo. Xoa bóp bấm huyệt là một phương pháp đơn giản của Đông y giúp giảm bớt những triệu chứng của viêm họng mạn và đề phòng những đợt cấp hoặc biến chứng của viêm họng. Ngoài việc uống thuốc, nên kiên trì thực hiện xoa bóp hằng ngày sẽ có hiệu quả.

Cách xoa bóp chữa bệnh viêm họng mạn tính

Vuốt hai bên họng: Dùng ngón tay cái day ấn huyệt liêm tuyền khoảng 3 phút.

Dùng ngón tay cái và ngón trỏ vuốt hai bên cạnh họng từ trên xuống khoảng 3 phút.

Dùng ngón cái và ngón trỏ tay phải đặt nhẹ hai bên xương sụn họng (chỗ yết hầu) lắc chậm rãi sang phải, sang trái khoảng 30 lần.

Xoa day huyệt phong trì: Dùng hai ngón tay cái ấn vào huyệt phong trì và day khoảng 2 phút.

Xoa huyệt dũng tuyền: Để chân trái lên đầu gối  chân phải, dùng tay phải xoa mạnh lòng bàn chân trái, nhanh và mạnh dần đến khi cảm giác nóng lên thì thôi. Sau đó đổi chân xoa bằng tay trái.

Để phòng bệnh, cần thực hiện những điều sau:

- Súc miệng hằng ngày bằng nước muối loãng và ngậm chanh muối, gừng muối, quất hấp đường phèn hoặc mật ong.

- Phòng ở và nơi làm việc phải đủ ấm, tránh làm việc trong môi trường nhiều khói bụi, hóa chất. Cần giữ ấm đặc biệt là cổ và ngực, đeo khẩu trang khi đi ra ngoài trời.

- Kiêng hút thuốc lá và hạn chế rượu. Ăn đủ chất dinh dưỡng để cơ thể có sức đề kháng, tránh các thức ăn cay, mặn.

- Tránh bị cảm cúm và viêm mũi họng cấp. Khi bị viêm họng cấp hoặc đợt cấp của viêm họng mạn, cần dùng thuốc của y học hiện đại theo chỉ định của bác sĩ.
Vị trí huyệt:

- Liêm tuyền: Chính giữa bờ trên sụn giáp trạng, trên lằn chỉ ngang chỗ cuống hầu, ở trên khe của xương móng và sụn giáp trạng.

- Phong trì: Ở chỗ lõm của bờ trong cơ ức đòn chũm và bờ ngoài cơ thang bám vào đáy hộp sọ.

- Dũng tuyền: Dưới lòng bàn chân, huyệt ở điểm nối 2/5 trước với 3/5 sau của đoạn đầu ngón chân thứ hai và giữa bờ sau gót chân, lỗ hõm dưới bàn chân.

Xoa bóp chống lão hóa da

 Xoa bóp theo phương pháp của y học cổ truyền là một trong những biện pháp chống lão hoá da khá hữu hiệu.

Cũng như mọi bộ phận trong nhân thể, làn da cũng không tránh khỏi quy luật phát sinh, trưởng thành và lão hoá. Nhưng, ước muốn làm chậm quá trình thoái hoá của da là điều con người hoàn toàn có thể làm được miễn sao phải kiên trì thực thi những biện pháp dưỡng da một cách có khoa học. Từ xa xưa, y học cổ truyền đã xây dựng và tích luỹ nhiều phương pháp giúp cho con người có làn da mềm mại, tươi sáng và khỏe mạnh. Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu cách xoa bóp đơn giản phòng chống lão hoá da mặt để bạn đọc cùng tham khảo và áp dụng:

Cách xoa bóp chống lão hóa da

Trước hết, xát hai bàn tay vào nhau cho ấm rồi nhắm mắt, xát mạnh hai bàn tay dọc theo sống mũi từ dưới cằm lên trán, vòng ra hai bên thái dương xuống gò má rồi trở lại cằm, làm như vậy 10 lần.

Tiếp theo dùng 3 ngón tay khép lại vuốt từ giữa trán ra hai bên.

Cuối cùng, dùng ngón cái và ngón trỏ xoa vòng quanh mắt từ khóe trong vòng lên trên rồi ra khóe ngoài và ngược lại.

Dùng ngón cái và ngón trỏ xoa vòng quanh mắt từ khóe trong vòng lên trên rồi ra khóe ngoài và ngược lại.

Dùng ngón cái và ngón trỏ xoa vòng quanh mắt từ khóe trong vòng lên trên rồi ra khóe ngoài và ngược lại.

Theo y học cổ truyền, xoa bóp có thể làm cho huyết mạch được lưu thông, quá trình chuyển hoá da được cải thiện, độ ẩm và tính trơn nhuận được nâng cao. Đó là chưa kể các thao tác xoa bóp còn tác động lên hệ thống kinh lạc và huyệt vị chằng chịt huy động tối đa các nhân tố trong cơ thể, điều chỉnh chức năng của hệ thống thần kinh và nội tiết làm cho da đẹp lên và sức khoẻ chung cũng được cải thiện. Đào Hoằng Cảnh (456 - 536), y gia trứ danh triều đại Bắc Nam ở Trung Quốc đã nói: “Ma thử lệnh nhiệt dĩ ma diện, tùng thượng chí hạ, khứ tà khí lệnh nhân diện thượng hữu quang thái”, nghĩa là dùng hai bàn tay xoa bóp mặt từ trên xuống dưới có thể làm cho da mặt sáng tươi và hồng nhuận. Bên cạnh đó, cổ nhân khuyên nên ăn đủ chất và cân bằng, nghĩa là chủng loại thực phẩm phải phong phú, đa dạng và không thiên lệch. Trong đó cần chú ý trọng dụng các thực phẩm có lợi cho da như đậu tương, bí đao, bách bộ, đại táo, sữa bò, da lợn, trứng gà, mật ong, sữa ong chúa và các loại hoa quả. Những thức ăn này thường giàu chất dinh dưỡng, nhiều vitamin và các nguyên tố vi lượng có tác dụng cải thiện chức năng của da và làm chậm quá trình lão hoá.

Sử dụng máy đo huyết áp đúng cách

  Ngày trước, khi công nghệ điện tử chưa phát triển, việc đo và theo dõi huyết áp chỉ được thực hiện ở bệnh viện và các cơ sở y tế với những người làm chuyên môn ngành y. Dụng cụ đo huyết áp ban đầu là các huyết áp kế cột thủy ngân. Dần dần, do các huyết áp kế dạng cột thủy ngân hơi cồng kềnh, không cơ động nên các huyết áp kế đồng hồ ra đời. Các loại huyết áp kế này lúc đầu thì chính xác nhưng khi sử dụng nhiều các lò xo bị giãn nên có sai số.

Sự ra đời của các loại huyết áp kế điện tử thực sự là một bước tiến mới cho việc theo dõi và điều trị các bệnh cao huyết áp và tim mạch tại gia đình và cho mỗi cá nhân, trong khi bệnh nhân cao huyết áp đang là một căn bệnh của thời đại và số tử vong do cao huyết áp, tim mạch và các biến chứng của nó đang là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở một số nước trên thế giới. Với huyết áp kế điện tử, bệnh nhân hay người nhà bệnh nhân có thể theo dõi huyết áp của mình theo yêu cầu của bác sĩ, biết phòng ngừa hay điều trị cấp thời những cơn cao huyết áp có thể dẫn đến tử vong. Tuy nhiên, như chúng tôi biết, loại huyết áp kế này chỉ sử dụng cho từng cá nhân, không nên sử dụng cho một tập thể nhiều người và khi đo cần phải tuân thủ nghiêm ngặt những điều hướng dẫn của nhà sản xuất mới mong có kết quả chính xác được.

Sử dụng máy đo huyết áp đúng cách

Sử dụng máy đo huyết áp đúng cách
Máy đo huyết áp bắp tay điện
tử tự động PolyGreen KP-7670

Trước khi sử dụng, đọc kỹ hướng dẫn của nhà sản xuất. Đưa máy đo huyết áp đến bác sĩ gia đình của bạn nhờ thử, hướng dẫn cách đo và chỉnh những sai số so với phương pháp đo huyết áp truyền thống do bác sĩ trực tiếp thực hiện.

Trước khi đo huyết áp, bệnh nhân nên nằm nghỉ trong một môi trường yên tĩnh với thời gian từ 10 - 15 phút. Khi đo, huyết áp kế luôn luôn được đặt ngang ngực với tầm của trái tim và sử dụng tay trái. Những bệnh nhân có bất thường về huyết áp ở hai tay phải và trái như trong bệnh hẹp eo động mạch chủ ngực hay bệnh hẹp động mạch chủ từng đoạn Takayasu thì không nên sử dụng loại huyết áp kế này, mà nên đến đo ở một cơ sở y tế. Chỗ đánh dấu có Micro nhỏ phải đặt đúng vị trí của đường đi động mạch như: động mạch cánh tay ở khuỷu, động mạch quay ở cổ tay. Trong thời gian đo, tay bệnh nhân phải thả lỏng hoàn toàn, không được gồng hay nâng lên hạ xuống.


Máy đo huyết áp cổ tay điện tử tự động PolyGreen KP-6241

Trong khi đó, nếu máy đo huyết áp báo lỗi hay huyết áp bị nghi ngờ là không chính xác chỉ được đo lại sau 15 phút. Khi có những bất thường về huyết áp, nên gọi điện thoại cho bác sĩ gia đình hay bác sĩ quen của bạn để được tư vấn. Không nên tùy tiện sử dụng các loại thuốc hạ huyết áp, nhất là các loại thuốc hạ huyết áp có tác dụng nhanh như: Nefidipin dạng ngậm, đặc biệt là việc nhỏ 3 giọt vào lưỡi như một số nhân viên y tế thường làm - một sai lầm rất hay gặp đối với rất nhiều bệnh nhân cao huyết áp và bệnh tim mạch. Việc hạ huyết áp quá nhanh có thể gây đột tử ở những bệnh nhân có nguy cơ nhồi máu cơ tim hay có thiểu năng tuần hoàn não.

Do vậy, khi mua máy đo huyết áp điện tử, chúng ta cần xác định mục đích sử dụng máy đo huyết áp dùng cho cá nhân hay trong các phòng khám bệnh. Vì nếu chỉ dùng cho cá nhân thì chỉ sử dụng loại máy đo huyết áp ở cổ tay, bắp tay là được. Các loại máy này có ưu điểm là dễ sử dụng.

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2020

Phương pháp chữa bệnh Diện châm

 Diện châm là phương pháp châm cứu vào các huyệt trên mặt để phòng hay chữa bệnh. Cách đây hàng ngàn năm người Trung Hoa phát hiện ra hệ thống kinh lạc trên cơ thể.

Kinh lạc và huyệt là gì?

Kinh lạc là hệ thống đường chằng chịt trên cơ thể nối từ trong các tạng ra ngoài đầu các chi (kinh âm) và từ đầu các chi vào trong cơ thể (các phủ kinh dương). Các kinh đều qua vùng đầu mặt hoặc có liên hệ với vùng đầu mặt. Lạc là các đường ngang nối các kinh có liên quan giữa tạng và phủ đó. Tác dụng của hệ kinh lạc là để lưu thông khí huyết, kinh lạc cũng là đường dẫn thuốc, tà khí vào trong hay khi ta đuổi tà khí ra ngoài. Kinh lạc có tác dụng điều khiển và điều hòa hoạt động của các tạng phủ. Trên đường kinh có các điểm ra vào của kinh khí gọi là huyệt. Khi công năng các tạng phủ rối loạn cũng có thể biểu hiện ra các huyệt tương ứng, ngược lại châm cứu vào các huyệt đó có tác dụng điều chỉnh lập lại hoạt động bình thường của các tạng phủ.

Ngoài huyệt trên đường kinh, người Trung Hoa cũng phát hiện trên cơ thể có nhiều huyệt khác nữa, số huyệt trên 14 đường kinh chính là 722 huyệt. Tổng số huyệt trên cơ thể con người khám phá ra cho tới nay là trên 1.400 huyệt.

Ngoài các huyệt trên thân thể, khi ta châm cứu vào đó gọi là thể châm thì người Trung Hoa cũng phát hiện ra những vùng đặc biệt, có các huyệt đặc biệt đại diện cho các tạng phủ và cơ quan trên cơ thể. Thí dụ: Trên loa vành tai các điểm đại diện được bác sĩ người Pháp nối lại thành một hình bào thai lộn ngược mang tên ông - gọi là sơ đồ Paul Nogier. Các thầy thuốc cũng thường dùng các huyệt trên loa vành tai để tìm vị trí bệnh và châm vào đó để điều trị bệnh - gọi chung là nhĩ châm. Ở bàn tay, bàn chân cũng có các huyệt đại diện cho các tạng phủ khi tác động vào đó gọi là phương pháp bàn tay châm, bàn chân châm.

Trên đầu, trên mặt, trên mũi, mắt cũng có các huyệt đại diện cho các cơ quan khi ta tác động vào đó gọi là đầu châm, diện châm, tỵ châm...

Mỗi phương pháp có sở trường sở đoản, các thầy thuốc có thể dùng thể châm, hay nhĩ châm, đầu châm, diện châm mà có kinh nghiệm riêng trong việc linh hoạt sử dụng các huyệt để điều chỉnh sự rối loạn công năng của các tạng. Cũng xin nói ngay hệ kinh lạc và hệ thống huyệt hoàn toàn khác với hệ thần kinh, mạch máu trên cơ thể người mà y học hiện đại phát hiện.

Tại sao châm cứu có tác dụng trong phòng và chữa bệnh?

Nhiều nhà khoa học cố gắng chứng minh: nào là châm cứu làm biến đổi thể dịch, tăng hồng cầu, tăng bạch cầu, tăng đường, tăng corticoid, tăng endorphine trong máu. Châm cứu điều chỉnh hoạt động của thần kinh giao cảm và phó giao cảm. Châm cứu tác động vào các cơ quan tiết đoạn thần kinh... Tất cả các giải thích trên đúng trong trường hợp này nhưng lại không đúng trong trường hợp khác. Theo cách giải thích của Đông y châm cứu có tác dụng là do nó có khả năng điều khí. Giải thích như vậy còn khó hiểu nhưng nó lại đúng cho mọi trường hợp. Cũng vì vậy ta hiểu giá trị của châm cứu là hữu hạn chứ không vô hạn. Nghĩa là có trường hợp dùng châm cứu được, cũng nhiều trường hợp dùng không có kết quả.

Về diện châm, trong Linh khu - ngũ sắc: Mặt có thể chia thành các khu vực: vùng lục phủ ngũ tạng, vùng cơ bắp... Ngũ sắc thể hiện ra từng vùng ở má, quan sát nó nổi hay chìm để biết độ nông sâu, quan sát độ thấm mềm thì biết thành hay bại, quan sát độ tản ra hay bó gọn vào thì biết được gần xa. Đây cũng là phương pháp "quan sát ngoại ứng để biết nội tạng".

Trong học thuyết kinh lạc đã chỉ rõ: đầu mặt là nơi quan trọng nhất của toàn thân.

Trong sách Linh khu tà khí tạng phủ bệnh hình viết: 12 kinh mạch, 365 lạc, khí huyết của nó đều từ mặt đi xuống khoang mũi. Tông khí của nó đi từ trên mũi xuống khíu... Bởi vậy sự biến hóa bệnh lý của các chi khớp, tạng phủ đều phản ảnh ra ở một khu vực nhất định trên mặt. Mũi ở giữa mặt, xưa gọi là Minh Đường, trong Linh khu - ngũ sắc có ghi: "Ngũ sắc độc quyết ở Minh Đường", "Mũi ở giữa mặt là đường vận hành khí huyết của toàn thân".

Có 7 huyệt chính giữa trán, mũi, môi trên. 17 huyệt đôi ở mũi, mắt, cạnh miệng, vùng gò má, mang tai.

Huyệt được gọi tên theo vùng:

- Huyệt đầu mặt: Nằm ở giữa trán, trên 1/3 từ lông mày đến chân tóc.

- Họng: Nằm ở 1/3 phía dưới từ giữa lông mày đến chân tóc.

- Phế: Nằm ở điểm giữa đường nối đầu trong 2 cung lông mày.

- Tâm: Nằm ở chỗ dưới cùng xương sống mũi.

- Can: Nằm ở phía dưới điểm cao nhất xương sống mũi.

- Tỳ: Nằm trên chỗ cao nhất của sống mũi.

- Tử cung - bàng quang: Nằm trên 1/3 trên rãnh nhân trung.

- Đởm: Nằm ở vùng phía dưới cạnh ngoài sống mũi.

- Vị: Nằm ở vùng liền cánh mũi.

- Tiểu trường, đại trường, vai, cánh tay: Nằm ở vùng gò má.

- Tay: Nằm phía dưới đằng sau xương quyền (gò má).

- Thận: Nằm ở điểm gặp nhau khi nối 2 đường - một đường từ thái dương xuống - một đường kẻ từ chân cánh mũi ra.

- Tiếng nói: Trùng với huyệt thính cung - nằm phía trước nhĩ bình.

- Đùi: Nằm 1/3 trên đường giữa dái tai và góc cổ dưới.

Nguyên tắc chọn huyệt để phòng chữa bệnh

- Dựa vào chẩn đoán bệnh ở cơ quan, tạng phủ nào.

- Căn cứ vào điểm phản ứng trên mặt (đỏ, tái, đau, nhức...).

- Cũng có thể biện chứng luận trị theo mối quan hệ tạng phủ trong ngũ hành tương sinh và tương khắc.

Tóm lại: Từ thời xa xưa con người đã khám phá ra các huyệt nằm trên mặt, các huyệt này đại diện cho một vùng hay một chức năng nhất định của cơ thể. Khi cơ quan bị bệnh có thể phản ảnh ra ngoài bằng sự thay đổi màu sắc hay tính nhạy cảm tại vùng đại diện của cơ quan đó. Cũng căn cứ vào đó, thầy thuốc có thể tác động châm cứu để điều chỉnh chức năng các cơ quan giống như trong châm cứu thể châm.

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2020

Day bấm huyệt phục hồi di chứng tai biến mạch máu não

  Tai biến mạch máu não (TBMMN)

 là một hội chứng trong phạm vi chứng "trúng phong" của y học cổ truyền, biểu hiện là bệnh nhân đột nhiên chóng mặt, ngã, một nửa người không cử động được, méo mồm, nói ngọng; nếu nặng thì bất tỉnh hôn mê. Bệnh cũng thường xảy ra đột ngột, diễn biến nhanh nên gọi là “Trúng phong” hay “Thốt trúng”.

Trong y học hiện đại, TBMMN là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 sau ung thư và bệnh tim mạch. Các triệu chứng thần kinh khu trú hay gặp bao gồm liệt vận động, liệt cảm giác nửa người, thất ngôn… Tỷ lệ tử vong của TBMMN chiếm khoảng 25%, hậu quả của TBMMN để lại di chứng nặng và nhẹ là 50%, khả năng phục hồi làm việc lại bình thường khoảng 25%.

Y học cổ truyền chia chứng tai biến mạch máu não thành 2 thể: 

Trúng phong kinh lạc và trúng phong tạng phủ.

Vị trí các huyệt.

Vị trí các huyệt.

Trúng phong kinh lạc gây tai biến mạch máu não

Thường gặp trong co thắt mạch não, nhồi máu não và xuất huyết não mức độ nhẹ: Liệt nửa người không có hôn mê, liệt mặt, thoáng mất ý thức, hoa mắt, chóng mặt, mạch huyền tế sác thuộc âm hư hỏa vượng. Nếu chân tay co quắp, miệng sùi bọt, cử động lưỡi khó khăn, rêu lưỡi trắng dày, mạch phù hoạt hoặc huyền hoạt thuộc chứng phong đàm.

Trúng phong tạng phủ: có thể gặp chứng bế hoặc chứng thoát.

Thường gặp trong xuất huyết não, nhồi máu não ổ lớn, có hôn mê. Chứng bế thể liệt cứng do dương khí thịnh, bệnh ở tại tạng tâm và can, hai tay nắm chặt, co quắp, hàm răng nghiến chặt, thở khò khè, mắt đỏ, người nóng, chất lưỡi vàng, không ra mồ hôi, rêu lưỡi vàng dày, mạch hoạt sác hữu lực.

Chứng thoát thể liệt mềm: hôn mê, mồm há, chân tay mềm duỗi, đái dầm dề, ra mồ hôi nhiều, sắc mặt trắng bệch, chân tay lạnh, lưỡi nhạt, mạch tế sác, trầm tế muốn mất.

Sau khi bị trúng phong, bệnh nhân còn lại di chứng trúng phong: chủ yếu là bán thân bất toại biểu hiện thượng hạ chi của bán thân bên trái hoặc bên phải tê dại, giảm hoặc mất cử động, giảm cảm giác đau, nóng, lạnh, tay không còn cầm nắm được, chân không đi lại được. Các phương pháp không dùng thuốc của y học cổ truyền  phục hồi di chứng tai biến mạch mão não cụ thể như sau:

Phương pháp châm cứu phục hồi di chứng tai biến mạch máu não

Huyệt ở tay: Kiên ngung, Kiên tỉnh, Tý nhu, Khúc trì, Hợp cốc, Bát tà, Nội quan...

Huyệt ở chân: Hoàn khiêu, Phong thị, Dương lăng tuyền, Âm lăng tuyền, Huyết hải, Túc tam lý, Phong long, Tam âm giao, Giải khê, Thái xung, Hành gian, Bát phong...

Huyệt ở vùng đầu mặt cổ: Bách hội, Hạ quan, Giáp xa, Địa thương, Thượng liêm tuyền, Thiên đột...

Phương pháp điện châm phục hồi di chứng tai biến mạch máu não

Tư thế bệnh nhân nằm ngửa hoặc nằm nghiêng.

Mỗi ngày châm một lần, thời gian lưu kim: 25 - 30 phút.

Liệu trình điều trị: từ 30 - 45 lần châm, tuỳ theo mức độ bệnh, sau đó có thể nhắc lại một số liệu trình tiếp theo.

Phương pháp thủy châm phục hồi di chứng tai biến mạch máu não

Thường dùng các huyệt như: Giáp tích tương ứng với chi liệt, Kiên ngung, Thủ tam lý, Phong thị, Túc tam lý, Thừa sơn, Dương lăng tuyền, Giải khê.

Thường sử dụng vitamin B1, B6, B12 liều cao, các thuốc tăng cường tuần hoàn não, tăng cường dinh dưỡng thần kinh để thủy châm vào một số huyệt.

Xoa bóp bấm huyệt và tập luyện là biện pháp không thể thiếu khi chữa di chứng trúng phong, đặc biệt đối với tình trạng bán thân bất toại trong giai đoạn phục hồi di chứng.

Xoa bóp vùng đầu mặt, lưng và tay chân, trọng tâm là bên liệt.

Tập luyện là một nội dung rất quan trọng trong phục hồi chức năng. Tiến hành cho bệnh nhân tập sớm từ thụ động đến chủ động tùy theo tình trạng của bệnh nhân.

Phòng bệnh tai biến mạch máu não

Tuân thủ điều trị, theo dõi sức khỏe định kỳ để đề phòng tai biến tái phát; Kiểm soát yếu tố nguy cơ; Có chế độ sinh hoạt, làm việc và tập luyện đều đặn; Phòng tránh các yếu tố bất lợi: gắng sức, stress,...