Văn phòng Diện Chẩn Sống Khỏe_ Khu nhà 102 Ngõ 95 Chùa Bộc-Đống Đa-Hà Nội _ ĐT : 0906143408

Hướng dẫn lý thuyết và thực hành cơ bản cho những quí vị thực sự yêu thích Diện Chẩn . Hãy gọi cho chúng tôi để biết lịch .

Tư vấn sức khỏe , chẩn bệnh đưa ra phác đồ miễn phí.

Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2014

Xử lý cơn co giật do động kinh

Bệnh động kinh là một chứng bệnh hệ thần kinh do xáo trộn lặp đi lặp lại của một số nơron trong vỏ não, tạo nhiều triệu chứng rối loạn thần kinh như co giật toàn thân, sùi bọt mép, mắt trợn ngược, bất tỉnh, mất kiểm soát tiểu tiện... Cơn động kinh thường bộc phát, bệnh nhân khó kiểm soát hay biết trước được.
Khi thấy một người lên cơn động kinh, cần làm các việc sau:
Nhanh chóng dùng vật dụng thích hợp đặt giữa 2 hàm răng tránh người bệnh cắn lưỡi, giữ đầu nghiêng sang một bên, đồng thời nới lỏng quần áo người bệnh, giữ tư thế người bệnh thoải mái, không cố định quá chặt. Chuyển tới Khoa Cấp cứu bệnh viện gần nhất.
Không vắt nước chanh nhỏ vào miệng bệnh nhân vì không có tác dụng cắt cơn và nước chanh sẽ chảy vào khí quản gây khó thở. Hút, lau đờm, nhớt.
Theo dõi “trông chừng liên tục”, rất cần tiếp xúc thân mật ngay sau khi người bệnh ra khỏi cơn co giật vì lúc này người bệnh chưa tỉnh hẳn, dễ có hành vi vô ý gây nguy hiểm và tạo ra cảm giác an toàn, hết đau đớn sợ sệt và bất hạnh.
Nếu cơn co giật xảy ra liên tục (động kinh liên tục) phải điều trị cấp cứu tại các bệnh viện có chuyên khoa và đầy đủ trang thiết bị cấp cứu.
BS. Nguyễn Văn Thịnh

Tránh nếp sống có hại cho sức khỏe

Khỏe mạnh là lời chúc chúng ta dành cho nhau và bản thân mỗi người cũng luôn mong muốn mình được mạnh khỏe. Tuy nhiên, nhiều người trong chúng ta lại có những nếp sống rất có hại cho sức khỏe mà không biết. Nghiên cứu của các nhà khoa học Hoa Kỳ đã chỉ ra một số việc làm có hại mà người trẻ hiện đại ở các quốc gia thường mắc phải. Chúng ta cùng xem mình có mắc các sai lầm này không nhé.
Chủ yếu dùng thực phẩm hữu cơ
Các nhà nghiên cứu Trường đại học Stanford ( Anh) cho biết, ăn thực phẩm hữu cơ sẽ không làm bạn khỏe mạnh hơn, dù bạn tránh được thuốc trừ sâu. Các nhà nghiên cứu đã theo dõi hơn 200 công trình nghiên cứu về thành phần và các thành tựu về sức khỏe mang lại của thực phẩm hữu cơ và phi hữu cơ. Nhìn chung, không có sự khác biệt rõ rệt giữa thành phần dinh dưỡng. Ưu điểm của thực phẩm hữu cơ là chứa ít hơn 30% thuốc trừ sâu so với các loại thực phẩm khác. Nhược điểm của nó là thực phẩm hữu cơ không những đắt đỏ hơn các loại thực phẩm phi hữu cơ mà còn chứa hàm lượng calo, chất béo và đường trong một vài loại thực phẩm hữu cơ như bột yến mạch cũng rất cao, thậm chí không tốt bằng những thực phẩm cùng loại phi hữu cơ. Như vậy, từ nay bạn đừng tưởng rằng “hữu cơ” là đồng nghĩa với “khỏe mạnh”.
Thiếu ngủ ngày này qua tháng khác
Các nghiên cứu chỉ ra rằng, ngủ đủ giấc là điều kiện đầu tiên để đảm bảo sức khỏe. Giấc ngủ có vai trò quan trọng đối với quá trình tái tạo sức khỏe của cơ thể. Nếu bạn luôn thiếu ngủ, đồng hồ sinh học của cơ thể sẽ bị đảo lộn, dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Đã có nhiều nghiên cứu khoa học từ trước đến nay vẫn khẳng định, tình trạng thiếu ngủ liên hệ mật thiết với những căn bệnh hiểm nghèo như: đột quỵ, tim mạch, ung thư, Alzheimer... Kết luận rút ra ở đây là thiếu ngủ rất có hại cho sức khỏe trước mắt cũng như lâu dài. Vậy sang năm mới, bạn hãy thay đổi lại lịch làm việc và nghỉ ngơi để đảm bảo ngủ đủ từ 7-8 giờ mỗi ngày, lưu ý nên ngủ trưa từ 30 phút đến 1 giờ để giữ gìn sức khỏe và tuổi thọ nhé.
Không nên chụp Xquang sọ não khi không cần thiết.
Không nên chụp Xquang sọ não khi không cần thiết.
Thích sống nội tâm, ít giao lưu quan hệ
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, những người có bạn bè như một vài người bạn thân hay một nhóm bạn thì sẽ có hệ miễn dịch khoẻ mạnh hơn những người luôn sống cô đơn. Do khi có mối quan hệ xã hội tốt, bạn sẽ giảm được nguy cơ căng thẳng, nhờ đó máu lưu thông trong cơ thể cũng tốt hơn, hệ miễn dịch được tăng cường.
Nếu từ trước đến nay bạn có thể cảm thấy sống một mình thật dễ chịu, thì bạn đã nhầm. Trái lại, bạn phải giao lưu nhiều hơn với bạn bè, quan tâm thường xuyên tới người thân mới có lợi cho sức khỏe. Mặt khác, có nhiều mối quan hệ xã hội, thực sự quan trọng đối với sức khoẻ về mặt thể chất lẫn tinh thần của bạn, nhất là hệ miễn dịch được tăng cường.
Lạm dụng vitamin tổng hợp
Nghiên cứu của nhiều nước trên thế giới cho thấy, lạm dụng vitamin và các chất khoáng dưới dạng thuốc cũng có thể gây hại cho cơ thể. Bình thường, những người khỏe mạnh không bị rối loạn tiêu hoá, ăn uống với chế độ ăn bình thường thì không bao giờ phải dùng thêm vitamin cũng như các khoáng chất dưới dạng thuốc. Ngược lại, nếu các đối tượng này thường xuyên uống vitamin, đặc biệt vitamin tan trong dầu như các vitamin A, D thì dễ gặp các rối loạn do thừa vitamin.
Chiếu chụp Xquang khi không cần thiết
Cuộc sống văn minh, khi có điều kiện thì chúng ta nên dành tiền để thực hiện khám kiểm tra sức khỏe định kỳ là điều cần thiết có lợi cho việc chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên, nếu bạn cố tình yêu cầu chiếu chụp không cần thiết thì ngược lại còn có hại cho sức khỏe. Ví dụ, bạn đòi hỏi chụp cắt lớp vi tính, chụp Xquang sọ não để xem có khối u hay không... thì đều có hại. Bởi mỗi lần chiếu chụp tia X, bạn đều bị nhiễm xạ, nó làm tăng nguy cơ ung thư chứ không phải cứ có nghi ngờ về sức khỏe là phải chụp cắt lớp hay chụp Xquang sọ não. Như vậy, mỗi lần đi khám sức khỏe định kỳ bạn nên trao đổi với bác sĩ để biết những xét nghiệm nào, những kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh nào là cần cho bạn.
Dùng thuốc diệt vi khuẩn một cách triệt để
Cuộc sống và sức khỏe của mỗi người chúng ta được ổn định cân bằng trong mối quan hệ mật thiết với môi trường sống trong đó có vi khuẩn. Vi khuẩn có rất nhiều ở ngoài môi trường và cũng có nhiều trên da và trong cơ thể chúng ta. Chúng hiện diện ở khoang miệng, đường tiêu hóa, trong lỗ tai, lỗ mũi, trên da và sống cộng sinh hay ký sinh với cơ thể người. Nhiều vi khuẩn có lợi đối với sức khỏe như vi khuẩn trong ruột giúp tổng hợp nhiều loại vitamin. Vi khuẩn ở miệng họng giúp kìm hãm sự sinh sản phát triển của các loại nấm gây bệnh... Nhiều nghiên cứu cho thấy, chỉ có 10% vi khuẩn là “có hại” hoặc “gây bệnh”, trong khi 90% là vi khuẩn “tốt” hoặc không gây bệnh. Như vậy, vi khuẩn cũng là yếu tố cần thiết cho đời sống con người.
Tiếc thay nhiều người lại nghĩ rằng nên định kỳ dùng thuốc kháng sinh để diệt hết vi khuẩn (mà theo họ là có thể sẽ gây bệnh) và họ còn dùng đủ các cách sát khuẩn để cho môi trường sống xung quanh họ “thật sạch vi khuẩn”.
Từ nay bạn nhớ rằng, một môi trường vô khuẩn hoàn toàn đôi khi lại có hại.
Ăn mặn
Việc ăn mặn thường do thói quen dùng những thực phẩm chế biến sẵn và đồ ăn nhanh rất không tốt cho sức khỏe, dễ mắc các bệnh về tim mạch. Vì muối sẽ làm cho bạn mắc chứng tăng huyết áp và các chứng bệnh tim mạch khác.
Tự chữa bệnh
Ngày nay, giới trẻ và nhiều người tìm kiếm các kiến thức y khoa trên mạng, nghĩ rằng bản thân hiểu cơ thể mình hơn bác sĩ, tự chẩn đoán bệnh và mua thuốc chữa bệnh cho mình. Điều này rất dễ dẫn tới bạn chẩn đoán sai bệnh, dùng thuốc sai và hậu quả là bệnh không những không khỏi mà còn nặng thêm. Bởi bằng mắt thường, lại không có chuyên môn, kinh nghiệm, chưa chắc bạn đã chẩn đoán đúng bệnh. Bạn nên biết rằng rất nhiều bệnh có những triệu chứng giống nhau hoặc không có triệu chứng rõ ràng từ giai đoạn đầu. Cho nên từ nay để xác định đúng bệnh, đúng nguyên nhân thì bạn phải đi khám bệnh ở bệnh viện, làm các xét nghiệm là vô cùng cần thiết.
BS. Bùi Thị Thu Hương

Cảnh giác với những biến chứng của bệnh thủy đậu

Hiện tại, bệnh thủy đậu đang xuất hiện ở TP.HCM và các tỉnh phía Nam, dịch bệnh xảy ra khá sớm, nếu chủ quan có thể lây lan ra nhiều địa phương khác. Mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh thủy đậu, dẫn đến biến chứng, thậm chí biến chứng nguy hiểm.
Virus Varicella-Zoster gây bệnh thủy đậu.
Virus Varicella-Zoster gây bệnh thủy đậu.
Nhận biết bệnh thủy đậu
Bệnh thủy đậu (bệnh phỏng rạ) thường xuất hiện vào mùa đông - xuân, là bệnh truyền nhiễm, dễ lây lan thành dịch. Bệnh thủy đậu do virut Varicella - Zoster gây ra. Virut gây bệnh thủy đậu rất có ái tính với da, niêm mạc và hệ thống thần kinh. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, kể cả người lớn tuổi nếu cơ thể chưa có miễn dịch chống lại chúng. Bệnh thủy đậu thường có 2 thể chính: thể thông thường, điển hình và thể thủy đậu bất thường, biến chứng. Thể thông thường, khi bệnh khởi phát có sốt nhẹ (có khi sốt cao 39 - 40oC) và viêm long đường hô hấp trên (chảy nước mũi), trẻ hay quấy khóc, ăn kém. Thời kỳ toàn phát, ban xuất hiện khá nhanh, mới đầu là các nốt sẩn đỏ giống với ban sởi xuất hiện ở vùng da đầu, gáy, bụng, lưng, ngực sau vài giờ các ban phát triển thành nốt phỏng rải rác khắp thân mình và tứ chi. Nốt phỏng thủy đậu là nước trong, rất nông, tròn hay bầu dục, có vòng đỏ bao quanh, một số nốt thủy đậu hơi lõm ở trung tâm. Chúng mọc không theo tuần tự và hết đợt này đến đợt khác cách nhau khoảng từ 2 - 3 ngày (tính chất này để phân biệt với ban của bệnh sởi). Một số vùng niêm mạc như trong vòm miệng, niêm mạc âm đạo (nữ giới) cũng có thể có các nốt phỏng thủy đậu xuất hiện. Ngứa thường xuất hiện, gãi làm vỡ các nốt làm lây lan ra các vùng da khác và làm cho nốt thủy đậu nhiễm khuẩn. Một số hạch ngoại biên có thể xuất hiện (hạch nách, hạch bẹn, cổ) và chỉ tồn tại trong thời gian ngắn rồi xẹp dần. Thời kỳ lui bệnh chỉ sau khoảng 24 - 48 giờ, các nốt phỏng sẽ ngả sang màu vàng và vỡ ra, sau khi khỏi thì không để lại sẹo (trừ trường hợp bị bội nhiễm vi khuẩn). Thông thường mỗi một nốt thủy đậu kéo dài khoảng 5 - 6 ngày rồi khô lại, đóng vảy.
Tổn thương thủy đậu ở người lớn.
Tổn thương thủy đậu ở người lớn.
Biến chứng do thủy đậu
Bản chất của bệnh thủy đậu là một bệnh lành tính nhưng cũng có thể có loại thủy đậu bất thường, đặc biệt là biến chứng nguy hiểm. Biến chứng viêm da do bội nhiễm vi khuẩn thì nốt thủy đậu có mưng mủ, khi khỏi thường để lại sẹo, đôi khi là sẹo rất sâu, khó hồi phục, dễ nhầm với nốt đậu mùa. Ở những bệnh nhân bị suy dinh dưỡng nặng, nốt thủy đậu có thể có hoại tử. Biến chứng của bệnh thủy đậu là có thể gây viêm tai (tai ngoài, tai giữa), viêm thanh quản, viêm phổi. Một số trường hợp nặng có thể gây viêm thận cấp (tiểu ra máu). Biến chứng nặng nhất là gây nên viêm não - màng não hết sức nguy hiểm, có thể tử vong nếu để muộn và cấp cứu không kịp thời. Đặc biệt lưu ý là những người mẹ đang mang thai, nếu chưa có miễn dịch chống bệnh thủy đậu mà mắc bệnh thì nguy hiểm cho thai nhi, nhất là người mẹ mắc bệnh ở 3 tháng đầu của thai kỳ và tháng sắp sinh.
Điều trị và phòng bệnh bệnh thế nào?
Bệnh thủy đậu là bệnh do virut gây ra cho nên hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ có thể dùng một số loại nhằm ức chế sự phát triển của virut (loại kem bôi vào nốt thủy đậu ở ngoài da và loại uống). Để tránh nốt thủy đậu bị bội nhiễm có thể dùng một số thuốc sát khuẩn da thông thường (betadin). Nếu trẻ chỉ có vài ba nốt thủy đậu bị vỡ thì có thể dùng dung dịch xanhmetylen hoặc milian hoặc dung dịch betadin để rửa rồi dùng bông vô khuẩn thấm khô (bông này sau khi dùng xong cho vào túi ni lông buộc kín rồi cho vào nước đun sôi để diệt mầm bệnh, tránh lây lan). Để chống ngứa có thể dùng một số thuốc kháng histamin. Tuy vậy, dùng loại thuốc gì, dùng như thế nào, dùng trong bao lâu là quyết định của bác sĩ khám bệnh, người nhà không được tự mua thuốc để điều trị, ngay cả thuốc bôi ngoài da và đặc biệt là thuốc chống ngứa. Khi có nhiều nốt phỏng vỡ hoặc có dấu hiệu bất thường, cần cho trẻ đi bệnh viện càng nhanh càng tốt để được điều trị, đề phòng sốc do mất nước, nhiễm khuẩn, nhiễm độc và biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra.
Biến chứng viêm phổi do thủy đậu.
Biến chứng viêm phổi do thủy đậu.
Phòng bệnh thủy đậu, tốt nhất là tiêm vaccin cho trẻ và cả người lớn chưa có miễn dịch với bệnh thủy đậu. Bởi vì, người trưởng thành vẫn có thể mắc bệnh thủy đậu, thậm chí bệnh rất nặng, biến chứng nguy hiểm hơn. Có thể tiêm vaccin phòng bệnh thủy đậu tại các trung tâm y tế dự phòng của quận, huyện.
Bệnh thủy đậu lây lan chủ yếu theo đường hô hấp và dụng cụ, đồ dùng trong sinh hoạt, đồ chơi của trẻ mắc bệnh. Vì vậy, khi trong gia đình hay một tập thể (nhà trẻ, lớp mẫu giáo) có trẻ mắc bệnh nghi do thủy đậu cần được cách ly trẻ bệnh với trẻ lành (cho trẻ ở nhà với gia đình, không nên đến lớp học) và báo ngay cho trạm y tế (phường, xã) để có biện pháp ngăn ngừa không cho mầm bệnh lây lan. Những người lớn chưa bao giờ bị bệnh thủy đậu cũng cần tránh tiếp xúc với bệnh nhân thủy đậu. Để tránh bệnh thủy đậu lây lan ra nhiều vùng da trên một cơ thể và lây lan cho người khác thì khi bị mắc bệnh, cần giữ vệ sinh da sạch sẽ, không để nhiễm khuẩn và lây lan ra các dụng cụ sinh hoạt, đồ chơi làm lây nhiễm cho trẻ khác. Sau mỗi lần tắm rửa cho trẻ, cần dùng vải thô sạch thấm khô da của trẻ rồi mặc quần, áo rộng, thoáng. Vải hay khăn lau khô cho trẻ bệnh cần luộc kỹ bằng nước đun sôi. Cần vệ sinh giường, chiếu, đồ dùng sinh hoạt, đồ chơi của trẻ bệnh bằng cách lau bằng chất sát khuẩn như xà phòng, cloramin B. Nên cho trẻ nằm trong phòng kín gió nhưng không được ẩm, ướt. Đảm bảo tốt chế độ dinh dưỡng cho trẻ là điều hết sức quan trọng để tăng cường sức đề kháng chống lại bệnh tật.
PGS.TS.TTƯT. Bùi Khắc Hậu

Viêm loét dạ dày

Viêm loét dạ dày là một trong những bệnh khá phổ biến, bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng người lớn chiếm tỷ lệ cao hơn trẻ em. Tùy theo các vị trí của viêm và loét khác nhau mà có các tên gọi là viêm dạ dày, viêm hang vị, viêm tâm vị, viêm bờ cong nhỏ, loét hang vị… Bệnh có thể dẫn tới nhiều biến chứng nguy hiểm nếu phát hiện và điều trị muộn.
Nguyên nhân gây viêm loét
Đau dạ dày có thể do rất nhiều nguyên nhân: do nhiễm vi khuẩn HP - đây là một loại vi khuẩn gram âm, có hình xoắn, là nguyên nhân thường gặp gây ra các bệnh lý ở dạ dày tá tràng; do chế độ ăn uống vô độ không có quy luật, ăn thức ăn nóng quá, lạnh quá, cứng quá, khó tiêu, chua, cay quá, ăn không nhai kỹ, ăn vội… hoặc ăn phải một số thức ăn bị nhiễm khuẩn, nhiễm độc…
Viêm loét dạ dày
Ngoài ra, cũng có thể do uống rượu, chè đặc, cà phê đặc; do uống nhầm phải các chất ăn mòn: axit, kiềm, sút, một số hóa chất có chì, thủy ngân… có thể gây bỏng niêm mạc thực quản và dạ dày.
Khi dùng các thuốc giảm đau, chống viêm điều trị các bệnh khớp người dùng cũng có nguy cơ bị viêm loét dạ dày. Nguyên nhân là do những thuốc ấy có tác dụng phụ gây tổn thương niêm mạc dạ dày; những nhiễm khuẩn cấp: cúm, sởi, bạch hầu, thương hàn… có thể gây viêm dạ dày. Người bị suy thận cũng rất dễ bị viêm dạ dày do urê máu tăng cao.
Yếu tố tinh thần, các trạng thái stress, cáu gắt, trầm cảm, lo nghĩ, căng thẳng… cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên tổn thương dạ dày.
Triệu chứng điển hình
Đau bụng do bệnh lý ở dạ dày có trường hợp biểu hiện rõ, chẩn đoán tương đối dễ dàng, thường bệnh nhân có những triệu chứng như: Đau vùng bụng trên rốn, đau thường xuất hiện lúc đói hoặc ngay sau ăn nhưng vài trường hợp đau không liên quan gì tới bữa ăn, đau âm ỉ hoặc đau dữ dội. Đau âm ỉ có khi kéo dài từ vài tháng đến vài ba năm, có khi hàng chục năm. Nhiều bệnh nhân đau có tính chất chu kỳ (một chu kỳ khoảng từ một tuần đến vài tuần trở lên) và thường xảy ra vào lúc giao mùa, đặc biệt là mùa rét.
Kèm theo đau là các biểu hiện của rối loạn tiêu hóa, bệnh nhân thường hay có cảm giác nặng bụng, khó tiêu, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn, nôn, nóng rát, trướng bụng, trung tiện, phân có khi nát có khi lỏng, có khi rắn như phân dê. Trong những trường hợp loét hành tá tràng lâu ngày gây co kéo làm hẹp môn vị thì ăn không tiêu, bụng ậm ạch khó chịu, nhiều khi phải móc họng nôn ra mới thấy thoải mái.
Viêm loét dạ dày nếu không được điều trị đúng và kịp thời có thể gây ra những biến chứng như hẹp môn vị, thủng dạ dày, xuất huyết tiêu hóa, ung thư dạ dày…
Điều trị bệnh có khó?
Ăn uống hợp vệ sinh là khâu quan trọng hàng đầu. Cần có chế độ dinh dưỡng tốt, thích hợp cho người mắc bệnh về dạ dày: Không nên ăn quá nhiều chất kích thích, thức ăn quá chua, quá cay, quá nóng; không nên ăn quá nhiều chất béo, các chất kích thích như trà, cà phê…; không uống rượu, không hút thuốc lá; không nên ăn quá nhanh, nhai không kỹ; cần ăn đúng bữa, đúng giờ, không ăn quá khuya, bữa ăn cuối cùng trước lúc ngủ ít nhất 4 giờ, không ăn quá no hoặc nhịn đói quá lâu. Ăn nhiều rau xanh, uống nhiều nước và đặc biệt không được tự ý dùng thuốc, nhất là với các thuốc giảm đau, chống viêm mà không có sự chỉ dẫn của bác sĩ.
Bên cạnh đó, cần kết hợp với chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý, tránh làm việc quá sức, stress kéo dài.
Ngoài ra, việc tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ là nguyên tắc không thể thiếu trong quá trình điều trị căn bệnh này. Ngày nay, người ta khuyến cáo điều trị viêm loét dạ dày - tá tràng dựa trên cơ chế tiêu diệt vi khuẩn HP, chống tăng tiết dịch vị và cần có thuốc bao phủ niêm mạc tránh tác dụng của dịch vị. Có rất nhiều loại thuốc điều trị bệnh dạ dày, tùy theo tình trạng bệnh bác sĩ sẽ có sự lựa chọn thuốc thích hợp.
ThS. Vũ Hồng Anh

Làm thế nào để khỏe mạnh và sống lâu

Hãy bổ sung vào sổ tay thực phẩm 5 việc cần làm nhiều sau đây để giúp bản thân và gia đình sống vui, sống lâu và sống khỏe nhé!
1. Uống trà
Trà là một trong những thức uống lành mạnh nhất được thế giới công nhận. Theo phân tích, trong lá trà chứa hơn 300 thành phần hóa học, như Protein, Lipit, Axit amin, Carbohydrate, Vitamin, Tea Polyphenols, Catechin, Lipopolysaccharide v.v… Những thành phần này đều là chất dinh dưỡng quan trọng và những vị thuốc nhiều công dụng không thể thiếu trong cơ thể con người.
Điều tra của huyện Shizuoka (Nhật Bản), phát hiện những khu vực dùng nhiều trà nhất là vùng sản xuất trà thì tỷ lệ mắc bệnh ung thư và tỷ lệ tử vong thấp hơn những khu vực khác. Hiện nay y học về cơ bản đã làm rõ, thành phần kháng ung thư trong lá trà chủ là chính là Catechin. Thành phần này chiếm khoảng 15-20% trong trà xanh. Ngoài ra, vitamin C và E trong lá trà cũng có công hiệu hỗ trợ đề phòng ung thư nhất định. Với những đặc tính ưu việt này, bạn đừng ngần ngại thêm trà vào thức uống hằng ngày cho gia đình mình để có thể khỏe mạnh và sống lâu nhé.
 1
2. Ăn cá
Thịt cá vừa tươi mềm vừa dễ ăn. Kết quả nghiên cứu của Trung tâm Y tế Quân đội Walter Reed (Washington, Mỹ) cho thấy: mỗi tuần ăn cá hồi ít nhất một lần có thể giúp người cao tuổi giảm 44% tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch.
Phụ nữ mỗi tháng ăn cá 1-3 lần có thể giảm 7% tỷ lệ đột quỵ, mỗi tuần ăn cá khoảng 5 lần có thể giảm đến 50% nguy cơ này. Từ đây có thể thấy, trong thực đơn hằng ngày nhất định phải có nhiều cá, đặc biệt là những loại cá ở biển sâu.
 2

3. Ăn một số loại nấm 
Các loại nấm có thể ăn được đều giàu protein, ít chất béo, nhiệt lượng thấp, còn chứa các vitamin, khoáng chất, axit amin phong phú nên rất tốt cho sức khỏe. Bổ sung nấm trong bữa ăn có tác dụng giúp não khỏe, tăng cường hệ miễn dịch, khai vị kiện tỳ, dưỡng gan bổ thận… Nấm có rất nhiều loại nên sẽ không khiến bạn bị ngán mà vẫn đạt được hiệu quả sức khỏe. Tuy nhiên, bạn nên chú ý khi chọn và ăn nấm để tránh ăn phải các loại nấm bị cấm và có độc, không được ăn.
 3

4. Uống nhiều nước
Độ tuổi nào cũng cần đủ nước cho cơ thể. Tuy nhiên khi bước vào tuổi trung niên và lão niên, thành phần nước trong cơ thể sẽ giảm ít dần, thậm chí là ít hơn đến 30-40% so với lúc trẻ.
Do đó những người ở độ tuổi này càng nên ý thức uống nhiều nước hằng ngày, ít nhất cũng phải 800ml/ngày. Tuy nhiên, với người già có bệnh về thận hoặc Glôcôm (còn gọi là thanh quang nhãn) thì cần khống chế lượng nước một cách chặt chẽ theo chỉ dẫn của bác sĩ để cung cấp lượng nước vừa phải, tránh bắt thận và mắt làm việc quá sức.
 4

5. Ăn canh
Nếu bạn có thói quen ăn canh sau khi ăn cơm thì hãy tập thay đổi lại trình tự này. Trước khi ăn cơm, dùng một ít canh có thể làm “trơn” đường tiêu hóa, khiến cho “đường đi” cho thức ăn thuận lợi hơn, giảm tình trạng thức ăn khô cứng gây kích thích niêm mạc tiêu hóa. Hãy nhớ là không ăn canh đến no nê để tránh tăng gánh nặng cho dạ dày và dễ dẫn đến những bệnh dạ dày nhé.
Theo afamily

Những thứ ít ngờ có thể gây dị ứng

Quai dép, nước, ánh sáng, tinh dịch... là những thứ ít ngờ nhưng có thể khiến người tiếp xúc bị ngứa, mẩn đỏ, mọc mụn.
Phản ứng dị ứng gây ra do hệ thống miễn dịch của cơ thể phản ứng quá mức với các tác nhân từ môi trường sống. Mọi thứ không thuộc cơ thể con người đều có thể gây dị ứng. Bên cạnh những tác nhân gây dị ứng thường gặp như thuốc, thức ăn, nọc côn trùng, lông chó lông mèo…, các biểu hiện này còn có thể đến từ những nguyên nhân khó ngờ như nước, ánh nắng, tinh dịch…
Dị ứng với quai dép
Người bị dị ứng do quai dép thường xuất hiện các đám ban đỏ ngứa và mụn nước nhỏ tại vùng da tiếp xúc với quai dép sau khi thay dép mới một vài ngày, thể dị ứng này thuộc loại viêm da dị ứng tiếp xúc. Nguyên nhân thường là các loại hóa chất có trong nhựa hoặc da dùng để chế tạo quai dép.
Không khó để phát hiện các trường hợp dị ứng với quai dép, do vùng tổn thương thường có ranh giới khá rõ và chỉ khu trú tại nơi tiếp xúc với quai dép. Giải pháp cho các trường hợp này là thay một loại dép mới có quai dép làm bằng một chất liệu khác hoặc mang tất mỗi khi đi dép. Sau khi thay dép, các biểu hiện ban đỏ và ngứa thường giảm dần và biến mất sau vài ngày.
quai-dep-2674-1391433153.gif
Hình ảnh bàn chân một bệnh nhân bị dị ứng với quai dép. Ảnh: Nguyễn Hữu Trường.
Dị ứng với nước
Nước cần cho tất cả mọi người, nhưng có một số người lại thường bị ngứa nhiều, nổi ban đỏ, mày đay (sẩn phù) mỗi khi tiếp xúc với nước. Mày đay do dị ứng với nước rất hiếm gặp, cơ chế gây bệnh còn chưa được hiểu rõ. Sau khi ngưng tiếp xúc với nước, các biểu hiện ngứa và sẩn phù thường biến mất trong vòng 15-30 phút, nếu triệu chứng kéo dài có thể dùng các thuốc kháng histamine như diphenhydramine để giảm nhanh triệu chứng.
Dị ứng với tinh dịch
Là dạng dị ứng không quá hiếm gặp ở phụ nữ nhưng lại ít được ghi nhận. Theo thống kê ở Mỹ có khoảng 40.000 phụ nữ gặp phải dạng dị ứng này. Biểu hiện hay gặp là ngứa và sưng nề bộ phận sinh dục sau mỗi lần quan hệ. Thử test trên da với các protein trong tinh dịch là phương pháp chẩn đoán quan trọng nhất. Phương pháp điều trị tối ưu là sử dụng bao cao su hoặc điều trị giảm mẫn cảm với tinh dịch cho những phụ nữ có ý định mang thai.
Dị ứng do gắng sức
Dạng dị ứng này bắt đầu được ghi nhận trong y văn từ những năm 1970. Những trường hợp nhẹ thường có biểu hiện nổi ban đỏ, mày đay, những trường hợp nặng hơn có thể có sốc phản vệ với các triệu chứng như khó thở, thở rít, tụt huyết áp…
Có 2 dạng dị ứng do vận động, dạng thứ nhất xảy ra khi vận động trong vòng 2 giờ sau bữa ăn, dạng còn lại không liên quan đến thức ăn. Với cả 2 dạng dị ứng này, ngay khi có biểu hiện dị ứng cần ngừng vận động và dùng các thuốc chống dị ứng. Có thể dự phòng thể dị ứng do vận động liên quan đến thức ăn bằng cách hạn chế ăn trước khi vận động.
Dị ứng do ánh nắng
Dị ứng do ánh nắng có 2 dạng chính là nổi mày đay hoặc viêm da sau tiếp xúc với ánh nắng. Dạng thứ nhất tương đối hiếm gặp, biểu hiện với các đám ban sẩn, ngứa hoặc cảm giác kiến bò, xuất hiện trong vòng 30 phút sau khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời.
Mày đay do ánh nắng thường giảm dần và biến mất trong vòng vài phút sau khi ngừng tiếp xúc với ánh nắng. Một số ít trường hợp triệu chứng kéo dài cần được điều trị bằng các thuốc chống dị ứng nhóm kháng histamine, tuy nhiên, các thuốc này không có tác dụng dự phòng triệu chứng. Ngoài mày đay, ánh nắng còn có thể gây viêm da với các biểu hiện nổi ban đỏ, nóng rát hoặc cảm giác kim châm. Thành phần tia cực tím trong ánh nắng được cho là nguyên nhân trực tiếp gây ra các biểu hiện dị ứng.
Dị ứng với niken
Niken là một kim loại được dùng phổ biến để chế tạo nhiều vật dụng như tiền xu, đồ trang sức, bật lửa, gọng kính… Một số người có thể bị các biểu hiện viêm da dị ứng như nổi mụn nước, ban đỏ ngứa, bong tróc da tại nơi tiếp xúc với những vật dụng có chứa kim loại này.
Thông thường, các triệu chứng dị ứng xuất hiện khá muộn, 2-3 ngày sau tiếp xúc với niken. Cũng như với các trường hợp viêm da dị ứng tiếp xúc khác, biện pháp điều trị tốt nhất cho viêm da do niken là ngừng ngay việc tiếp xúc với tác nhân gây bệnh, dùng thuốc kháng histamin để giảm ngứa và corticoid bôi tại chỗ, nơi có ban đỏ.
Dị ứng do cọ xát
Cọ xát có thể gây ra một dạng dị ứng khá thường gặp gọi là chứng vẽ nổi da, ghi nhận được ở khoảng 3 - 4% dân số thế giới. Những người bị chứng dị ứng này có thể dùng móng tay cào nhẹ trên da và tạo ra các nốt sẩn ngứa theo đúng đường cào của mình. Không chỉ do gãi, các nốt mày đay còn có thể xuất hiện do mặc quần áo chật hoặc kỳ cọ bằng khăn tắm. Ban đỏ thường tự biến mất trong vòng 30 phút.
Dị ứng do lạnh
Nổi mày đay đơn thuần chỉ do lạnh là dạng dị ứng khá hiếm gặp, nhưng có thể rất nặng. Người bị thể dị ứng này thường có nổi mày đay, phù mắt môi, khó thở khi đột ngột tiếp xúc với môi trường lạnh như khi gặp gió lạnh hoặc vào bể nước lạnh. Người bệnh có thể dự phòng bằng cách tránh để một diện rộng của cơ thể tiếp xúc với lạnh và không bao giờ đi bơi một mình.
Dị ứng do bia rượu
Không chỉ làm nặng hoặc kích phát các bệnh dị ứng có từ trước, bản thân bia rượu cũng có thể gây ra các triệu chứng như nổi ban đỏ, ngứa, đau quặn bụng, khó thở… Nguyên nhân gây dị ứng có thể đến từ các loại men, các protein trong ngũ cốc hoặc cây hoa bia dùng để nấu bia rượu, các chất bảo quản chứa gốc sulfite, phenol, các chất tạo hương vị.

Theo VNExpress

Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2014

Bí quyết đơn giản phòng tránh ung thư phổi

Ngoài thuốc lá là nguyên nhân chủ yếu gây ra ung thư phổi, còn rất nhiều nguyên nhân khác, một nửa số người bị mắc bệnh này hiện là người không hút thuốc. Sau đây là các cách phòng tránh:
Bí quyết đơn giản phòng tránh ung thư phổi
* Cai thuốc lá
Nếu bạn đang hút, hãy bỏ thuốc ngay lập tức
Nếu không phải là người hút thuốc, đừng bao giờ hút thử.
Tránh cả hút thuốc lá thụ động, hít phải khói thuốc của người hút.
* Tập thể dục:
Tập luyện thường xuyên có thể hữu ích trong phòng ngừa ung thư phổi. Nghiên cứu đã gắn hoạt động thể lực trong việc giảm nguy cơ ung thư phổi. Kể cả các hoạt động đơn giản như làm vườn 2 lần 1 tuần có thể giúp bạn giảm nguy cơ mắc ung thư phổi.
* Chế độ ăn giàu rau xanh và hoa quả: giúp ngăn ngừa ung thư phổi. Hãy ăn các loại rau đa dạng nhiều màu sắc khác nhau như súp lơ, rau chân vịt, hành, táo, cà chua, cam,...
* Tránh môi trường phóng xạ: cần kiểm tra nhà bạn để tránh các yếu tố phóng xạ.
LiLy (Theo zeenews india)