Văn phòng Diện Chẩn Sống Khỏe_ Khu nhà 102 Ngõ 95 Chùa Bộc-Đống Đa-Hà Nội _ ĐT : 0906143408

Hướng dẫn lý thuyết và thực hành cơ bản cho những quí vị thực sự yêu thích Diện Chẩn . Hãy gọi cho chúng tôi để biết lịch .

Tư vấn sức khỏe , chẩn bệnh đưa ra phác đồ miễn phí.

Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014

Màu sắc phân tiết lộ sức khỏe của bạn

Không nên coi thường khi thấy những dấu hiệu khác lạ từ hệ tiêu hóa của mình. Màu sắc phân cũng là dấu hiệu giúp bạn có thể biết được thực trạng sức khỏe của mình.
Xanh lá cây
Phân màu này do nhiều nguyên nhân, như thực phẩm được tiêu hóa nhanh quá, ăn nhiều rau, hoặc thực phẩm có chứa thuốc nhuộm màu xanh lá, hoặc cơ thể nhạy cảm với dầu anise hay phản ứng phụ của việc uống bổ sung sắt. Những trường hợp này đều không quá đáng ngại.
Trắng
Phân trắng thường do thiếu hụt mật, có thể là kết quả của việc tắc nghẽn ống dẫn mật. Ví dụ một sỏi mật có thể chặn ống dẫn mật, hoặc ống dẫn mật có thể bị viêm và sẹo. Khi đó, mật sẽ quay trở lại gan, gây ra không chỉ phân trắng mà còn khiến bệnh nhân đau bụng, nước tiểu sẫm màu và vàng da vàng mắt.
Vàng
Đôi khi phân có màu vàng, trơn nhầy và có mùi của trứng chua (do sự hiện diện của hydrogen sulfide) nếu ta ăn quá nhiều chất béo và mật không thể chuyển hóa hết. Nhưng đây cũng có thể là dấu hiệu của bệnh loét bao tử. Nếu hiện tượng này kéo dài trong vài ngày, bạn nên đi khám bệnh.
Đen
Có rất nhiều nguyên nhân khiến phân có màu đen. Điều này là phổ biến nếu bạn uống rượu đêm, ăn cam thảo hay uống bổ sung viên sắt.
Tuy nhiên, đó cũng có thể là dấu hiệu của một bệnh nào đó nguy hiểm hơn. Đây là dấu hiệu bạn bị chảy máu ở bộ phận tiêu hóa, và việc chảy máu này có nguyên nhân từ một khối u hay viêm loét. Nếu màu đen được gây ra do chảy máu thì phân giống hắc ín (nhựa đường) và có mùi rất kinh khủng.
Nếu bạn thải ra phân màu đen với mùi hôi thối khủng khiếp mà trong vòng 16 giờ trước đó, bạn không hề nhấp một ngụm rượu nào thì hãy đi khám bệnh ngay lập tức.
Đỏ tươi
Nếu do bạn ăn củ cải đường, cà chua hay quả việt quất, uống các loại nước hỗn hợp như Kool-Aid mà phân có màu đỏ tươi thì bạn không có gì phải lo ngại. Tuy nhiên, nếu phân có những đốm đỏ tươi, hoặc những dải đỏ như màu máu tươi, có thể là cơ quan nào đó trong hệ tiêu hóa bị chảy máu, hoặc là bạn đã mắc bệnh trĩ.
Bạc
Một dấu hiệu cho thấy đường ruột rất tệ. Có thể là do tắc nghẽn trong ống dẫn mật hoặc chảy máu ở ruột non. Phân trắng vì thiếu mật kết hợp với việc đường ruột bị chảy máu. Và nếu thấy phân có màu này, bạn nên đến bệnh viện ngay lập tức.
Màu xanh da trời
Có thể do bạn đã uống quá nhiều soda nho hoặc rượu Curaçao xanh dương (là một loại rượu Curaçao được pha thêm màu xanh dương méthylène). Đây cũng có thể là phản ứng phụ của việc bạn đã uống bổ sung một số thuốc được điều trị trong nhiễm độc kim loại nặng (như bức xạ, phóng xạ).

Nguy cơ ung thư từ lỗi nấu ăn thường gặp

SKĐS - Duy trì thói quen đun nấu dưới đây trong thời gian dài có thể sẽ đưa bạn chạm mặt tử thần do mắc các bệnh ung thư nguy hiểm.
Nêm quá nhiều muối
Các chuyên gia thuộc Viện Ung thư Quốc gia Mỹ (NIC) cho hay, khẩu phần ăn uống có quá nhiều muối chính là thủ phạm khiến dễ mắc ung thư dạ dày bởi nó làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn gây u xơ.
Lạm dụng đồ nướng
Khi nướng thịt, nó sẽ sản sinh các amin dị vòng (HCAs) và hydrocarbon thơm đa vòng (PAHs) – những hợp chất có khả năng tác động lên cấu trúc tế bào gây ung thư. Thực vậy, bàn về vấn đề này các nhà nghiên cứu đến từ Đại học Oregon (OSU) từng khẳng định PAHs có thể làm thay đổi và tổn thương cấu trúc DNA, gây ung thư lớn hơn 400 lần so với những người ít tiếp xúc với thực phẩm nướng.
Đồ nướng tiềm ẩn nguy cơ ung thư. Ảnh minh họa
Đồ nướng tiềm ẩn nguy cơ ung thư. Ảnh minh họa

Dùng đồ nhôm tái chế
Vì giá thành rẻ nên nhiều bà nội trợ lựa chọn các loại xoong nồi tái chế. Song họ không biết rằng trong quá trình tái tạo, nhôm nhiễm bẩn còn được độn thêm nhiều loại hóa chất, phụ gia khiến các tạp chất này dễ bị bung ra khi đun nấu, cọ rửa hoặc chà xát mạnh.
Việc lưu trữ thức ăn trong nồi nhôm kém chất lượng thực sự rất độc hại vì chúng dễ hòa tan với thức ăn. Sau thời gian phơi nhiễm, lượng nhôm tích tụ trong các mô cơ thể có thể gây nhiễm độc nặng như suy thoái não, dị hình xương. Bên cạnh đó, nó cũng là nguyên nhân gây nên các vấn đề như: mất ngủ, căng thẳng, giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ và thậm chí là những bệnh ung thư nguy hiểm.
Đổ dầu mỡ quá tay
Các nhà khoa học Italy nhận thấy những phụ nữ có chế độ ăn nhiều chất béo làm tăng khoảng 30% nguy cơ phát triển ung thư vú. Cụ thể, hấp thu nhiều loại thực phẩm này làm tăng lượng calo trong cơ thể, gây tình trạng thừa cân, béo phì. Trong khi đó, phụ nữ béo phì có xu hướng đạt nồng độ estrogen và insulin cao hơn những người có vóc dáng tương đối. Đây cũng chính là nhân tố gây nên ung thư vú và nội mạc tử cung.
Hun khói thực phẩm tạo mùi
Phân tích thịt xông khói , gan, cá hun khói... cho thấy đây là những đồ ăn có chứa hàm lượng benzopyrene cao. Thực tế, benzopyrene từ lâu được biết đến là hợp chất làm tăng nguy cơ mắc ung thư dạ dày và thực quản.
Thịt hun khói. Ảnh minh họa.
Thịt hun khói. Ảnh minh họa.
Ướp quá nhiều đường
Tuy không trực tiếp gây ung thư nhưng hấp thu nhiều đường có thể gây nên tình trạng thừa cân và béo phì. Được biết, béo phì gây ra những thay đổi về hàm lượng insulin và hormon giới tính trong cơ thể. Sự thay đổi này tác động làm tăng nguy cơ phát triển ung thư vú, đại tràng và ung thư tử cung.

Phòng ngừa giãn tĩnh mạch thực quản ở người bệnh gan

Giãn tĩnh mạch thực quản là biến chứng của tăng áp lực tĩnh mạch cửa, các tĩnh mạch mở rộng ở phần dưới thực quản, ống nối cổ họng và dạ dày. Đa phần bệnh nhân phát hiện được do chảy máu tiêu hóa, nôn ra máu nhiều. Nếu không được xử lý kịp thời bệnh nhân có thể tử vong. Đây là hội chứng hay gặp ở người bệnh xơ gan, chiếm tới 50%. Tỷ lệ tử vong của bệnh nhân bị vỡ giãn tĩnh mạch thực quản nếu có xơ gan khoảng 40 - 70%, tuỳ thuộc vào mức độ suy gan.
Vì sao bị giãn tĩnh mạch thực quản?
Giãn tĩnh mạch thực quản (varices) là bất thường, các tĩnh mạch mở rộng ở phần dưới của thực quản - ống nối cổ họng và dạ dày. Xảy ra thường xuyên nhất ở những người bị bệnh gan nghiêm trọng. Đôi khi, giãn tĩnh mạch thực quản có thể vỡ, gây chảy máu đe dọa tính mạng.
Giãn tĩnh mạch thực quản - Các mạch máu có thể trở nên mở rộng và có nhiều khả năng vỡ.
Giãn tĩnh mạch thực quản - Các mạch máu có thể trở nên mở rộng và có nhiều khả năng vỡ.

Nguyên nhân gây giãn tĩnh mạch thực quản chính là nguyên nhân làm tăng áp tĩnh mạch cửa, bao gồm: Tắc trước xoang: do chèn ép từ các nhánh lớn tĩnh mạch cửa trở ra hoặc chèn ép từ các nhánh nhỏ tĩnh mạch cửa (tiểu thùy) trở lên; Tắc tại xoang; Tắc sau xoang: Tắc trong gan do chèn ép tĩnh mạch trên gan nhỏ (tiểu thùy), phổ biến là do xơ gan. Tắc ngoài gan do chèn ép tĩnh mạch trên gan trở lên; Tăng áp tĩnh mạch cửa không do tắc mà do luồng máu đến nhiều hoặc tăng áp tĩnh mạch cửa không rõ nguyên nhân (bệnh banti).
Cần thận trọng ở bệnh nhân xơ gan
Bệnh sẽ không có biểu hiện rõ rệt nếu bệnh nhân không bị đi ngoài, nôn ra máu. Tuy nhiên, biến chứng hay gặp nhất là bệnh nhân có thể bị tái phát hiện tượng chảy máu... Các dấu hiệu và triệu chứng của chảy máu thực quản varices bao gồm: nôn ra máu, phân có máu, sốc trong trường hợp nghiêm trọng.
Thực quản varices là điển hình thường xuyên nhất của biến chứng xơ gan. Một số bệnh gan có thể dẫn đến xơ gan: viêm gan virut B, bệnh gan do rượu và xơ gan đường mật; Máu đông (huyết khối). Một cục máu đông trong các tĩnh mạch cửa hoặc trong một tĩnh mạch có nguồn cấp vào trong tĩnh mạch cửa được gọi là các tĩnh mạch lách có thể gây ra varices thực quản; Nhiễm ký sinh trùng có thể gây hại cho gan, cũng như phổi, ruột và bàng quang; Hội chứng gây ra máu trở lại trong gan... Chính vì vậy, người mắc bệnh xơ gan cần thăm khám bác sĩ thường xuyên để phát hiện bệnh. Nếu đã được chẩn đoán mắc bệnh gan, hãy hỏi bác sĩ về nguy cơ giãn tĩnh mạch thực quản và làm thế nào có thể làm giảm nguy cơ bị các biến chứng. Nếu đã được chẩn đoán với varices thực quản, bác sĩ có thể hướng dẫn phải thận trọng với những dấu hiệu chảy máu. Một khi đã có chảy máu, nguy cơ khác là tăng lên rất nhiều. Trong một số trường hợp, chảy máu có thể gây ra sự mất khối lượng máu rất nhiều dẫn đến sốc và có thể dẫn đến tử vong.
Điều trị thế nào?
Mục tiêu chủ yếu trong điều trị varices thực quản là để ngăn chặn chảy máu. Phương pháp điều trị để ngăn ngừa chảy máu, làm giảm áp lực máu trong tĩnh mạch cửa có thể làm giảm nguy cơ chảy máu thực quản varices.
Nếu bệnh nhẹ, có thể điều trị nội khoa, nhưng khi đã xuất hiện chảy máu thì dùng thuốc đơn thuần và một số dự phòng vỡ tĩnh mạch thực quản thắt tĩnh mạch thực quản thì hiệu quả chưa cao. Đa số những người này cần được phẫu thuật. Giãn tĩnh mạch thực quản chảy máu là đe dọa tính mạng và ngay lập tức điều trị là cần thiết: Sử dụng dải đàn hồi để buộc chảy máu tĩnh mạch; Tiêm thuốc vào tĩnh mạch chảy máu; Các loại thuốc để làm chậm dòng chảy của máu vào tĩnh mạch cửa hoặc chuyển hướng lưu lượng máu đi từ tĩnh mạch cửa...
Duy trì lối sống lành mạnh để phòng bệnh
Nếu đã được chẩn đoán mắc bệnh gan, có thể lo lắng về nguy cơ biến chứng nặng hơn. Hãy hỏi bác sĩ về các chiến lược để tránh biến chứng bệnh gan. Nó có thể giúp đỡ để thực hiện các bước giữ gan càng khỏe mạnh càng tốt, chẳng hạn như: Không uống rượu, chọn một chế độ ăn uống đầy đủ các loại trái cây và rau quả. Chọn toàn bộ ngũ cốc và các nguồn protein nạc. Giảm lượng thức ăn béo và chiên; Duy trì một trọng lượng cơ thể hợp lý; Cẩn thận khi dùng hóa chất trong sinh hoạt như hóa chất gia dụng, thuốc xịt côn trùng...; Giảm nguy cơ viêm gan: Bảo vệ bản thân bằng cách tiêm vaccin phòng viêm gan và sử dụng bao cao su khi sinh hoạt tình dục tránh lây nhiễm virut viêm gan B.
Các thống kê cho thấy, có đến 50% người mắc bệnh xơ gan bị giãn tĩnh mạch thực quản. Mỗi năm, số người bị giãn tĩnh mạch thực quản tăng khoảng 5 - 15%. Khi giãn tĩnh mạch thực quản chuyển sang biến chứng nặng, tĩnh mạch thực quản sẽ bị vỡ. Nếu bệnh nhân không xơ gan, mức độ tử vong từ 5 - 10%. Nếu kèm theo xơ gan, tỷ lệ tử vong lên tới 40 - 70%. Với bệnh nhân vỡ tĩnh mạch thực quản, 40% trường hợp tự ngưng chảy máu. Thế nhưng, trong vòng 6 tuần sẽ có 30% chảy máu trở lại và trong vòng một năm, tỷ lệ chảy máu tái phát lên đến 70%.
BS. Nguyễn Phương Anh

Chống nắng hay đón ánh nắng để khỏe mạnh?

Rất nhiều người bối rối về những cảnh báo ánh nắng mặt trời gây ung thư da song song với các lời khuyên cơ thể con người cần vitamin D từ ánh nắng ban ngày để khỏe mạnh. Vậy nên xoa kem chống nắng và che kín người 24/7 hay tích cực chơi đùa dưới nắng hè?
Chống nắng hay đón ánh nắng để khỏe mạnh?
Bác sĩ đa khoa Naomi Potter khẳng định mức độ của tia UV rất thấp vào mùa đông, do đó thời gian này trong năm, ánh mặt trời không thể làm hại cho da bạn trừ khi bạn ở bên ngoài trời quá lâu mà không bảo vệ da.
Trên thực tế, những bằng chứng về việc ánh mặt trời yếu sẽ hại da bạn trong thời gian dài cũng chưa được chứng minh rõ ràng. Nhưng nếu ánh sáng mặt trời mùa hè nóng gắt, cường độ mạnh, chiếu liên tiếp lên cơ thể bạn trong thời gian dài, thì bạn sẽ có nguy cơ ung thư da, lão hóa sớm.
Chúng ta cần ánh nắng để tổng hợp vitamin D cho cơ thể, vì thế bạn cần có những hoạt động ngoài trời cần thiết. Chỉ nên tránh những ngày quá nắng gay gắt, và tránh hoạt động thời gian dài dưới ánh nắng cường độ cao không có sự bảo vệ của kem chống nắng hay mũ nón.
Các chuyên gia cũng cảnh báo từ khi có các sản phẩm kem chống nắng SPF, bệnh ung thư da ngày càng tăng, chủ yếu bởi không phải ai cũng biết hiệu quả của kem chỉ kéo dài trong 2 giờ. Mọi người thường bôi kem một lần trước khi da ngoài trời, sau đó họ yên tâm hoạt động cả ngày dưới cái nắng kinh khủng.
Bác sĩ da liễu Ross Perry cho biết 90% ánh nắng mặt trời giúp chúng ta tổng hợp vitamin D tự nhiên cho cơ thể. Vấn đề là ngày nay chúng tôi gặp quá nhiều người thiếu hụt vitamin D trầm trọng do phong cách sống hiện đại và họ không biết làm cách nào để tận dụng tốt ánh nắng mặt trời.
Lời khuyên của bác sĩ Perry là bạn hãy để tay và mặt mình tiếp xúc với ánh mặt trời khoảng 15 phút từ 1-2 lần mỗi tuần để cơ thể được cung cấp đủ lượng vitamin D cần thiết. Chừng đó không đủ khiến bạn bị già đi hay ung thư da.
Thúy Nga (Theo Telegraph)

Chứng khó nuốt - Khó chữa?

Chứng khó nuốt là một dấu hiệu bệnh lý của hầu họng hoặc thực quản. Chứng khó nuốt có thể xảy ra ở bất cứ người nào nhưng thường gặp nhất ở người lớn tuổi, những trẻ sinh non, những người tổn thương não hoặc hệ thần kinh.
Nhiều rối loạn gây ra chứng khó nuốt
Bình thường, các cơ ở hầu, thực quản co thắt để tống thức ăn và dịch từ miệng xuống dạ dày. Có hai loại rối loạn có thể làm thức ăn hoặc dịch khó đi xuống dạ dày:
Một là các cơ và thần kinh giúp đẩy thức ăn qua hầu và thực quản không làm việc tốt, tình trạng này xảy ra trong các trường hợp: Bệnh nhân bị đột quỵ hoặc tổn thương não hay tủy sống; Chứng co thắt thực quản, đa xơ hóa, chứng loạn dưỡng cơ, bệnh Parkinson; Bị viêm sưng hầu họng, thực quản, thanh quản, viêm đa cơ; Co thắt thực quản: các cơ thực quản đột ngột co thắt lại; Xơ cứng bì: làm cho các mô của thực quản trở nên cứng và hẹp lại, hoặc làm cho cơ ở đoạn thấp thực quản bị yếu đi, gây ra tình trạng thức ăn và acid dạ dày trào ngược lên hầu và miệng.
Ung thư thực quản - một nguyên nhân gây khó nuốt.
Ung thư thực quản - một nguyên nhân gây khó nuốt.
Hai là bị nghẹt ở hầu hoặc thực quản, xảy ra trong các rối loạn: Bệnh trào ngược dạ dày thực quản, dịch acid dạ dày đi ngược lên thực quản, có thể gây loét ở thực quản, gây ra các u sùi, làm cho thực quản bị hẹp hơn làm khó nuốt; Viêm thực quản: do trào ngược, bị nhiễm khuẩn, dị vật thực quản, do phản ứng dị ứng với thức ăn; Lưới thực quản: thường xuất hiện khi có một mảnh mô nhỏ nhô ra từ thành của thực quản; Túi thừa: do sự xuất hiện các túi nhỏ ở thành thực quản hoặc thành hầu, chúng xuất hiện từ bẩm sinh, hoặc phát triển dần theo thời gian; Các u thực quản: phát triển trong thực quản có thể là ung thư hoặc là u lành tính; Dị vật thực quản: thức ăn hoặc vật lạ kẹt lại trong hầu họng hoặc thực quản; Các khối u bên ngoài thực quản, như là hạch bạch huyết, u, ép vào thực quản. Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp không tìm được nguyên nhân gây ra chứng khó nuốt. Ở người cao tuổi, chứng khó nuốt là do sự lão hóa thực quản.
Biểu hiện khó nuốt
Khó nuốt thường biểu hiện ở các mức độ khác nhau: Tự nhiên xuất hiện khó nuốt rồi biến mất, khó nuốt nhẹ hay nặng, hoặc ngày càng nặng hơn. Khi bị chứng khó nuốt, bệnh nhân thường thấy các triệu chứng như sau: Khó khăn khi nuốt thức ăn hoặc nước uống trong lần nuốt đầu tiên của bữa ăn; Nôn ọe, mắc nghẹn hoặc ho khi nuốt; Thức ăn bị trào ngược lên hầu, miệng hoặc mũi sau khi vừa nuốt vào; Bệnh nhân cảm thấy thức ăn hoặc dịch mắc nghẹt lại ở một phần nào đó của thực quản; Bị đau khi nuốt thức ăn; Bị đau hay cảm thấy nặng ngực hoặc bị chứng ợ nóng; Sụt cân do không cung cấp đủ dinh dưỡng.
Chăm sóc và chữa trị
Điều trị chủ yếu là giải quyết các nguyên nhân gây khó nuốt. Việc điều trị bao gồm hướng dẫn bệnh nhân thực hiện các bài tập cho cơ nuốt. Nếu bệnh nhân bị các tổn thương não, các dây thần kinh, cơ, thì cần phải tập luyện để các cơ hoạt động phối hợp nhịp nhàng giúp cho phản xạ nuốt diễn ra thuận lợi. Trong chế độ ăn cũng cần thay đổi các loại thức ăn cho phù hợp với tình trạng bệnh tật để bệnh nhân dễ nuốt thức ăn. Chẳng hạn thay thức ăn đặc bằng thức ăn lỏng để có thể nuốt được dễ dàng hơn. Dùng phương pháp nong giãn thực quản bằng một thiết bị được đặt vào thực quản để mở rộng bất kỳ chỗ hẹp nào của thực quản. Nội soi để lấy các dị vật kẹt trong thực quản của bệnh nhân. Phẫu thuật để loại bỏ khối u hoặc túi thừa, xử lý dây thần kinh gây ra chứng co thắt thực quản. Dùng các loại thuốc chống ợ nóng, chống viêm thực quản, thuốc giúp ngăn chặn acid từ dạ dày trào ngược lên thực quản. Sử dụng kháng sinh để điều trị các trường hợp nhiễm khuẩn ở thực quản. Dùng biện pháp nuôi dưỡng qua ống thông xuống dạ dày đối với bệnh nhân bị khó nuốt nghiêm trọng để đảm bảo dinh dưỡng cho bệnh nhân.
Trào ngược dạ dày thực quản gây khó nuốt.
Trào ngược dạ dày thực quản gây khó nuốt.
Phòng bệnh có khó không?
Khó nuốt do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó có những nguyên nhân có thể phòng tránh được bằng các biện pháp đơn giản và hiệu quả như: Phát hiện sớm và điều trị triệt để các bệnh viêm hầu họng, thực quản, thanh quản, viêm đa cơ, xơ cứng bì, các rối loạn ở dạ dày.
Phòng tránh dị vật thực quản: Tránh cho trẻ em chơi hay ngậm các đồ chơi nhỏ như viên bi, hạt nhựa, cục tẩy... Người dùng răng giả phải thận trọng khi ăn uống hay nói chuyện, đề phòng răng giả lọt xuống họng, thực quản. Khám bệnh định kỳ để phát hiện sớm các trường hợp khối u bên ngoài thực quản như hạch bạch huyết, khối u ung thư trung thất ép vào thực quản. Ở người cao tuổi, chứng khó nuốt thường do sự lão hóa thực quản gây ra nên cần phải thực hiện ăn chậm, nhai kỹ, ăn thức ăn lỏng cho dễ nuốt.
ThS. Nguyễn Xuân Lãm

Giải mã những cơn đau bí ẩn

Những cơn đau ngẫu nhiên, bí ẩn và đôi khi kéo dài được ví như những âm thanh lạ phát ra từ chiếc xe của bạn, vì chúng ta không phải là thợ cơ khí hiểu về máy móc nên cứ để nó tự hết và rồi theo thời gian, những vấn đề tiềm ẩn ngày càng lớn hơn. Trong khi hầu hết không phải là dấu hiệu của tình trạn
Đau hàm cấp tính
Mỗi lần đóng mở miệng là lại nghe thấy âm thanh giống như tiếng click chuột thì nguyên nhân rất có thể là rối loạn khớp. Muốn phòng tránh, hãy đối xử tốt với chiếc hàm của mình, thay vì siết chặt răng thì hãy đặt lưỡi phía sau răng cửa trên sẽ giúp giảm căng thẳng.
Tê chân, tay
Ngồi nguyên một tư thế quá lâu, ai đó sẽ bị tê chân do giảm lưu thông máu, chỉ cần đứng lên di chuyển là cảm giác đau đau, tê tê sẽ chấm dứt ngay. Tuy nhiên, nếu bình thường không ngồi lâu mà lại có triệu chứng tê chân, tay như vậy, đó có thể là dấu hiệu của tổn thương thần kinh. Cụ thể, bệnh thần kinh ngoại biên có nhiều nguyên nhân, trong đó có bệnh tiểu đường, nghiện rượu, thiếu vitamin B-12 và các rối loạn khác như bệnh zona chẳng hạn. Chấn thương, nhiễm trùng hay nhiễm chất độc cũng có thể gây tổn thương thần kinh.
Bắp tay đau kèm cảm giác mất cân bằng
Ít ra đó là dấu hiệu ban đầu của bệnh Parkinson với chỉ báo rõ ràng là đau cả hai bắp tay trong thời gian dài. Một nghiên cứu của Đại học Harvard phát hiện ra rằng những người đàn ông luyện tập thường xuyên giảm 40% nguy cơ phát triển bệnh Parkinson.
Đau nhẹ ở mặt sau của đùi
Nguyên nhân tiềm ẩn có thể là thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng. Ngay cả khi vùng lưng có cảm giác bình thường, đau ở chân có thể là dấu hiệu dây thần kinh hông nối từ vùng thắt lưng xuống chân bị thoát vị đĩa đệm chèn ép. Một số chuyên gia cho biết thêm, ngoài cảm giác đau còn có cảm giác tê như kim châm. Vì vậy, cần hết sức tránh bê vác nặng hoặc cúi sai tư thế làm tổn thương vùng thắt lưng, trong khi tăng cường cơ bụng sẽ duy trì tư thế tốt.
Bắp chân đỏ và sưng
Nhiều người chỉ cảm thấy đau mỗi khi tập luyện hay đi bộ, nguyên nhân là do động mạch bị thu hẹp, cắt giảm lượng máu và oxy đến cơ bắp. Tuy nhiên, khả năng phổ biến nhất nên nghĩ tới là huyết khối tĩnh mạch sâu. Vì cảm giác đau tương tự như chuột rút nên nhiều người bỏ qua. Nếu cục máu đông vỡ ra, nó có thể di chuyển khắp cơ thể, gây nên tắc nghẽn động mạch phổi hay não - nguyên nhân gây đột quỵ. Những người thừa cân hoặc hút thuốc nếu có những cục máu đông dạng này nên thay đổi lối sống bởi đó là 2 yếu tố làm tăng nguy cơ và mức độ nghiêm trọng của huyết khối tĩnh mạch sâu. Cách ngăn ngừa những cục máu đông có thể phát tác là uống đủ nước, nếu ngồi lâu cách 2 tiếng phải uống nước để đảm bảo lưu thông máu.
Đau lưng nghiêm trọng
Giải mã những cơn đau bí ẩn
Ảnh: Internet
Đau lưng hầu như ai cũng từng gặp phải nên hầu hết bị bỏ qua. Tuy nhiên, đây là khu vực phức tạp bởi lưng tập trung các cơ quan thiết yếu gồm cơ, mô, bó dây thần kinh, cột sống… mà nếu không có những cấu trúc này, cơ thể chúng ta sẽ mềm như… sứa. Nếu đau lưng mãn tính, nên kiểm tra vì bỏ qua có thể trầm trọng thêm theo thời gian. Một lưu ý là loại trừ những tổn thương vùng sống lưng, đôi khi đau vùng thắt lưng lại là triệu chứng liên quan đến bệnh thận, cụ thể là sỏi thận phát triển đủ lớn sẽ làm thận sưng lên, gây ra đau lưng.
Đau nhói vùng bụng
Bụng là vùng bận rộn nên một cơn đau bất thường ở vùng bụng cũng có thể là một dấu hiệu cho thấy trục trặc ở cơ quan có liên quan. Vấn đề với các cơ quan lân cận như thận, phổi hoặc tử cung có thể dẫn đến khó chịu ở bụng. Đau ở vùng bụng dưới bên phải có thể là đau ruột thừa, cũng bên phải nhưng bụng trên là vấn đề với túi mật, đau ngay dưới xương ức là dấu hiệu của viêm tụy, viêm tuyến tụy. Đau bụng cũng có thể do tắc nghẽn đường ruột hoặc viêm gan. Lời khuyên của các chuyên gia là nếu đau bụng không rõ nguyên nhân, định kỳ hoặc đột ngột, nên đi khám càng sớm càng tốt.

Khàn tiếng, coi chừng bệnh trọng

Chứng khàn tiếng (hoarse) là biểu hiện đặc trưng của bệnh ở thanh quản: có khàn tiếng là có bệnh ở thanh quản, ngược lại khi có bệnh ở thanh quản thì chắc chắn có khàn tiếng. Đối với những người ít phải nói mà bị khàn tiếng cần rất cảnh giác với những bệnh nan y như lao, ung thư thanh quản...
Tiếng nói là kết quả kết hợp nhuần nhuyễn giữa vỏ não, các dây thần kinh dẫn truyền và nơi phát ra âm thanh là thanh quản, miệng, mũi, hầu, răng, môi.
Thanh quản bình thường (trên) và tổn thương viêm thanh quản (dưới).
Thanh quản bình thường (trên) và tổn thương viêm thanh quản (dưới).
Thanh quản là cơ quan hẹp nhất của đường thở, là nơi phát ra âm thanh. Tuy không phải thanh quản là cơ quan quyết định để phát ra tiếng nói, nhưng tiếng nói được phát ra chủ yếu bởi thanh quản.
Thanh quản được cấu tạo bởi 2 cái phễu nối liền với nhau ở khoảng hẹp nhất là khe thanh môn, khoảng cách giữa hai dây thanh ngăn phần trên là thượng thanh môn và phần dưới là hạ thanh môn. Thanh môn có 3 chức năng chính: một là chức năng hô hấp; hai là chức năng bảo vệ đường thở: nhờ hai phản xạ là co thắt, ngăn không cho dị vật (lỏng, đặc) rơi vào khí quản, phổi và phản xạ ho để tống dị vật ra ngoài; ba là chức năng phát âm, phát ra âm thanh, tiếng nói.
Âm thanh được phát ra khi không khí đi qua khe thanh môn làm rung hai dây thanh tạo nên tiếng nói. Khi phát âm hai dây thanh khép kín thì âm thanh phát ra đồng đều, giọng trong có âm sắc, tạo nên âm thanh đặc trưng riêng của từng người. Nếu khi phát âm mà hai dây thanh không khép kín thì tiếng nói sẽ bị khàn, giọng không đều, mất tiếng, mất âm sắc...
Vì sao bị khàn tiếng?
Khàn tiếng sẽ xảy ra trong các trường hợp sau: viêm thanh quản do bạch hầu, lao thanh quản, viêm thanh quản cấp tính do nhiều loại vi khuẩn, viêm thanh quản mạn tính...; nang hạt xơ, polyp ở thanh quản, khối u, ung thư họng và thanh quản; liệt dây thần kinh quặt ngược; dị vật ở thanh quản; sẹo hẹp do chấn thương hoặc do đặt ống nội khí quản. Ngoài ra còn có những yếu tố nguy cơ gây khàn tiếng như: phải làm việc nơi nóng ẩm, nhiều tiếng ồn, hơi nước hoặc độ ẩm cao, có nhiều bụi và hóa chất; những người phải nói nhiều như giáo viên, phát thanh viên, nhân viên bán hàng, ca sĩ...
Khàn tiếng và các triệu chứng đi kèm
Theo các nhà chuyên môn: khàn tiếng là triệu chứng có sớm và trung thành nhất của các bệnh lý ở thanh quản. Một khi đã bị khàn tiếng, chất lượng của tiếng nói giảm, cơ thể phản ứng bằng cách cố gắng nói to lên, kết quả là khàn tiếng càng nặng. Nếu bệnh nhân càng nói cố sẽ càng mệt, hình thành vòng tròn lẩn quẩn của quá trình khàn tiếng. Bệnh nhân bị khàn tiếng hoặc mất tiếng. Khi bác sĩ khám bệnh có thể thấy: niêm mạc thanh quản đỏ, nhiều dịch nhày, mủ chảy từ hạ họng vào thanh quản, băng thanh thất bị phù mọng, dây thanh âm có màu đỏ, phù dày, trên dây thanh có nhiều dịch nhầy, mạch máu đỏ. Chụp phim Xquang có thể phát hiện khối u trung thất. Có khi thấy hình ảnh nhát roi thanh quản do đập vào nhau quá mạnh, đột ngột gây nên một điểm loét tiếp xúc, xảy ra sau một gắng sức của giọng quá mạnh như ca sĩ tự nhiên hát bài hát có tần số cao quá khả năng của mình, một người đột ngột tức giận hét lên...
Chữa trị và phòng ngừa thế nào?
Chữa khàn tiếng phải tùy nguyên nhân mà có cách xử trí thích hợp. Các thuốc cần dùng gồm: kháng sinh, chống viêm, hạ sốt, an thần, giảm ho, giảm phù nề. Súc họng bằng dung dịch nước muối sinh lý 9%o. Dùng máy khí dung với dung dịch kháng sinh kết hợp corticoid, hoặc bơm thuốc trực tiếp vào thanh quản. Bệnh nhân cần được nghỉ ngơi, ăn uống nhẹ nhàng, tránh các loại thức ăn lạnh, hạn chế dùng rượu, bia, thuốc lá, cà phê... Tăng cường ăn hoa quả, uống trà gừng nóng. Hạn chế hoặc nói đến khi khỏi thì càng tốt.
Hàng ngày, bệnh nhân nên súc miệng nhiều lần bằng nước trà đặc có pha chút muối ăn. Pha 2 muỗng cà phê mật ong trong 250ml lít sữa tươi hâm nóng rồi uống từng ngụm thật chậm, nhiều lần trong ngày. Ngưng hút thuốc lá, thuốc lào trong thời gian mất tiếng vì thuốc lá có thể phá hủy tác dụng của các biện pháp điều trị nói trên.
Phẫu thuật cắt bỏ tổn thương, loại bỏ khối u, kết hợp với chạy tia phóng xạ và hóa chất. Sau phẫu thuật, bệnh nhân cần được luyện âm giọng nói, tránh thói quen phát âm xấu như đột ngột nói to có thể gây khàn tiếng.
Để phòng tránh mất tiếng, cần thực hiện nhiều biện pháp phối hợp như: tránh gió lùa vào phòng ở hay phòng làm việc, xe hơi. Không chỉnh nhiệt độ quá thấp trong phòng làm việc khi dùng máy điều hòa nhiệt độ, chỉ nên để mức 25 - 28oC. Nên mặc quần áo đủ ấm nếu phải làm việc nhiều giờ trong phòng quá lạnh, nhất là vùng cổ, ngực.
Không nên uống nước quá lạnh, hay quá nóng, rất nên bỏ thói quen uống nước đá dù trong những ngày nắng nóng. Tránh trường hợp quần áo đang ướt đẫm mồ hôi mà lại bước ngay vào phòng máy lạnh. Tránh nói to, nói nhiều, gào thét...
BS. Trần Ngọc Diệp