Văn phòng Diện Chẩn Sống Khỏe_ Khu nhà 102 Ngõ 95 Chùa Bộc-Đống Đa-Hà Nội _ ĐT : 0906143408

Hướng dẫn lý thuyết và thực hành cơ bản cho những quí vị thực sự yêu thích Diện Chẩn . Hãy gọi cho chúng tôi để biết lịch .

Tư vấn sức khỏe , chẩn bệnh đưa ra phác đồ miễn phí.

Chủ Nhật, 29 tháng 6, 2014

Những loại thực phẩm cần tránh khi bị đau bụng

Nếu bạn đang gặp những vấn đề liên quan đến đường tiêu hóa hoặc muốn tránh các bệnh dạ dày, hãy hạn chế sử dụng các loại thực phẩm sau
1. Đường tinh luyện
Những món ăn ngọt chứa nhiều đường tinh luyện sẽ làm tăng lượng insulin và dẫn đến sự biến động trong lượng đường huyết. Robynne Chutkan, phó giáo sư khoa tiêu hóa của Bệnh viện ĐH Georgetowwn, Washington D.C cho biết: "Tuy không ảnh hưởng trực tiếp đến dạ dày, nhưng sự thay đổi lượng đường huyết có thể làm bạn bị run và cảm thấy lạnh. Điều đó không tốt cho tình trạng đau bụng của bạn”.
2. Các sản phẩm làm từ sữa
nh-2-JPG-4474-1381460145.jpg
Các sản phẩm làm từ sữa.
Các sản phẩm như sữa và phô mai là thực phẩm cần tránh khi bị đau bụng. Hơn một nửa dân số thế giới khi sinh ra đã thiếu loại enzyme lactase cần thiết để phân giải đường lactose (một thành phần luôn có trong sữa). Cho dù cơ thể bạn có sẵn lactase thì sự nhiễm khuẩn cũng có thể ảnh hưởng đến loại enzyme này. Điều đó khiến cho khả năng tiêu hóa lactose của cơ thể bạn mất đi tạm thời hoặc vĩnh viễn.
3. Chocolate và thức ăn chứa caffeine
Lý do khiến những người đau bụng nhạy cảm hơn với chocolate và cà phê là chúng ảnh hưởng đến các cơ thực quản và gây ra chứng trào ngược. Hơn nữa caffeine sẽ làm bạn bị tiêu chảy. Và như đã giải thích ở trên, chocolate chứa sữa cũng có thể khiến bạn khó tiêu.
4. Thức ăn nhiều chất béo
Kem tươi hay các loại thịt đều là thức ăn nhiều chất béo. Chất béo trong thức ăn kích thích một số cơ quan thụ cảm trong dạ dày, làm chậm quá trình tiêu hóa và khiến bạn cảm thấy trướng bụng.
5. Thức ăn nhiều axit
nh-5-JPG-5107-1381460146.jpg
Không nên ăn các loại thực phẩm nhiều axit khi đau bụng.
Các loại trái cây thuộc họ cam chanh và sản phẩm làm từ cà chua có khả năng làm axit trào ngược. Vì thực chất cà chua cũng là loại quả chứa rất nhiều axit. Nguyên tắc này cũng áp dụng với nước trái cây chiết xuất từ cam, chanh. Tuy nhiên, thay vào đó bạn vẫn có thể uống nước táo.
6. Đồ uống có cồn
Như nhiều loại thực phẩm khác trong danh sách này, đồ uống có cồn như rượu, bia có thể lầm tăng nồng độ axit trong dạ dày. Chúng có chứa các chất hóa học khó chuyển hóa, gây kích ứng niêm mạc dạ dày. Và đặc biệt không tốt cho những người đã có tiền sử bệnh gan.
7. Thực phẩm chế biến
nh-7-JPG-5946-1381460146.jpg
Tránh các loại thực phẩm đóng hộp, chế biến sẵn khi đau bụng.
Thực phẩm chế biến với hạn sử dụng lâu thường chứa nhiều chất phụ gia ví dụ hất bảo quản. Vì thế, khi bị đau bụng, bạn không nên sử dụng các loại đồ ăn đóng hộp.

Bạn biết gì về bệnh phổi biệt lập?

Phổi biệt lập là một rối loạn phát triển thời kỳ bào thai dẫn đến hình thành một khối kén mô phổi không có chức năng, khối này được nuôi dưỡng bởi một động mạch bất thường.
Có hai loại phổi biệt lập: trong thùy chiếm khoảng 75% và ngoài thùy chiếm khoảng 25%.
Phổi biệt lập trong thùy: được giới hạn trong nhu mô phổi bình thường, hay gặp ở vị trí phân thùy đáy sau của thùy dưới cạnh cột sống cũng có thể lan tới các phân thùy  phổi liền kề và không có màng phổi riêng bao bọc. Khối kén mô phổi này không có chức năng, được nuôi dưỡng bởi một động mạch hệ thống bất thường xuất phát từ động mạch chủ bụng. Tĩnh mạch hồi lưu đổ về nhĩ trái qua hệ tĩnh mạch phổi. Tổn thương do mắc phải, có thể do tắc nghẽn phế quản và viêm phổi sau tắc nghẽn mạn tính.
Bạn biết gì về bệnh phổi biệt lập?
Chụp cộng hưởng từ thấy mạch máu bất thường nuôi vùng phổi biệt lập.
Phổi biệt lập ngoài thùy: là tổn thương kiểu thùy phổi phụ được bao bọc bởi màng phổi riêng. Có sự phân chia hoàn toàn giữa tổn thương và nhu mô phổi xung quanh. Vị trí tổn thương có thể nằm giữa thùy dưới và vòm hoành bên trái (90% số trường hợp) hoặc phần trên của bụng. Tổn thương ở phổi trái gặp nhiều hơn phổi phải, có khi tiếp giáp với thực quản và  có thể có đường rò. Khối mô phổi biệt lập được cấp máu bởi động mạch bất thường, thường là động mạch lạc chỗ xuất phát từ động mạch chủ ngực.
Thể bệnh này cũng thường đi kèm với các bất thường khác của cơ thể như thoát vị hoành bẩm sinh bệnh tim bẩm sinh, bất thường cột sống... Do khối kén mô phổi được bao bọc bởi màng phổi riêng, vì vậy ít xuất hiện tình trạng nhiễm khuẩn, hầu như chỉ biểu hiện là một khối mô mềm thuần nhất. Bệnh có thể chẩn đoán được trước sinh bằng siêu âm.
Trên phim chụp Xquang, biểu hiện điển hình của phổi biệt lập là đám mờ khu trú ở thùy đáy sau của phổi, gặp ở bên trái nhiều hơn bên phải. Phổi biệt lập trong thùy thường ở trên vòm hoành, là một đám mờ thuần nhất hình tròn hoặc bờ có nhiều thùy múi giống một khối ở trong nhu mô phổi, có thể chứa khí ở trong, ranh giới không rõ, hình ảnh giống viêm phổi hoặc áp-xe phổi, hiếm khi gặp hình ảnh mức nước hơi trong tổn thương ngoại trừ một số trường hợp có lỗ rò giữa tổn thương và phế quản liền kề. Phổi biệt lập ngoài thùy biểu hiện là khối tỷ trọng thuần nhất, bờ được xác định rõ bởi có màng phổi riêng bao bọc, có thể xuất hiện ở một số vị trí khác như màng ngoài tim, trung thất, vòm hoành, khoang sau phúc mạc.
Phương pháp điều trị
Điều trị phổi biệt lập trong thùy nói riêng và phổi biệt lập nói chung thì phương pháp điều trị phẫu thuật cắt bỏ phổi biệt lập là phương pháp duy nhất và triệt để nhất.
Nguyên tắc phẫu thuật cắt bỏ phổi biệt lập trong thùy: cắt bỏ tổ chức phổi biệt lập cùng với thùy mà phổi biệt lập nằm trong đó. Người ta có thể cắt riêng tổ chức phổi biệt lập mà vẫn giữ lại tổ chức phổi lành xung quanh, nhất là trong trường hợp tổ chức phổi biệt lập chưa có nhiễm khuẩn. Phải cắt cả phổi biệt lập lẫn thùy phổi chứa phổi biệt lập khi phổi biệt lập đã bị nhiễm khuẩn lan ra xung quanh phần thùy phổi khác.
Lời khuyên của bác sĩ
Bệnh phổi biệt lập thường chỉ có các triệu chứng không đặc hiệu như ho, ho ra máu, đau ngực, vì vậy, bệnh nhân cần phối hợp tốt với thầy thuốc thực hiện thêm các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh như chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ để phát hiện sự hiện diện của động mạch nuôi khối kén mô phổi là chẩn đoán xác định bệnh. Khi đã phát hiện được bệnh thì cần mổ sớm để tránh nhiễm khuẩn, ảnh hưởng đến các vùng phổi bình thường vì có thể phải cắt bỏ cả phần phổi lành bị viêm nhiễm này.
BS. Đinh Lan Anh
Vì sao bị tràn dịch màng phổi?

Người trưởng thành ăn bao nhiêu là chuẩn?

Khoa học dinh dưỡng không ngừng phát triển. Trong vòng 15 năm qua, cách ăn uống, nếp sống, điều kiện lao động và tầm vóc thể lực của người Việt Nam không ngừng thay đổi vì thế thực đơn cho mọi đối tượng phải phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng. Những thông tin mới nhất của Hội đồng khoa học liên ngành Bộ Y tế khuyến nghị nhu cầu dinh dưỡng với người trưởng thành như sau:
Người trưởng thành ăn bao nhiêu là chuẩn?
1. Năng lượng (E): Trung bình từ 2.000 - 2.200Kcal
2. Protein (P): 1,25g/kg/ngày chiếm 12,14% E, khẩu phần P động vật chiếm 30-35% tổng số P.
3. Lipid (L): Chiếm 18-25% tổng E khẩu phần, không vượt quá 25% L động vật, không vượt quá 60% tổng số L.
4. Glucid (G): Chiếm 61-70% tổng E khẩu phần, trong đó G phức hợp chiếm 61-70%, chất xơ 18-20g/người, đường ngọt tinh chế không quá 10% nhu cầu G.
5. Muối ăn: 6g/người.
6. Rau quả các loại: 350 - 500g/người.
Giá trị dinh dưỡng:
E: 2.000 - 2.200 Kcal/ngày
P: 75 - 90g (xấp xỉ 12 - 15%)
L: 30g - 40g (xấp xỉ 15 - 20%)
G: 320g - 380g (xấp xỉ 60 - 70%).
BS. Phạm Thị Thục
Dưới đây là một thực đơn mẫu cung cấp 2.000 - 2.200 Kcal/ngày:
Người trưởng thành ăn bao nhiêu là chuẩn?

Dấu hiệu sớm của bệnh rung nhĩ

Rung nhĩ là một trong những rối loạn nhịp tim rất thường gặp. Đây là một hình thái rối loạn nhịp tim nhanh. Bệnh có thể là nguyên nhân khoảng 5% các trường hợp đột quỵ, gây ra những biến chứng nặng nề, có thể tử vong hoặc tàn phế suốt đời.
Thế nào là rung nhĩ?
Ở người bình thường, nhịp tim từ 60 - 80 lần trong một phút khi cơ thể nghỉ ngơi. Khi rung nhĩ, các tâm nhĩ đập rất nhanh và không đều với tần số > 300/phút. Rung nhĩ ban đầu có thể chỉ thoáng qua trong thời gian vài phút, vài giờ, đôi khi vài ngày xen kẽ với những giai đoạn nhịp tim bình thường. Tuy nhiên, nếu không được điều trị thích hợp, rung nhĩ trở thành mạn tính. Vì vậy, việc chẩn đoán và điều trị rung nhĩ sớm rất quan trọng để giảm thiểu tối đa biến chứng của rung nhĩ, đem lại cuộc sống với chất lượng tốt hơn cho bệnh nhân.
Bệnh lý mạch vành - một trong những nguyên nhân gây rung nhĩ.
Bệnh lý mạch vành - một trong những nguyên nhân gây rung nhĩ.
Rung nhĩ có thể xuất hiện mà không do bất kỳ một bệnh lý tim mạch thực tổn nào. Tuy nhiên, thường gặp hơn ở bệnh nhân mắc một bệnh lý tim mạch nào đó như bệnh van tim, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, suy tim... Đôi khi có thể gặp ở bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, cường giáp hoặc bệnh tim bẩm sinh.
Dấu hiệu cảnh báo không rõ ràng
Ở nhiều người, rung nhĩ không có dấu hiệu cảnh báo rõ ràng. Triệu chứng thường gặp nhất là biểu hiện đánh trống ngực do tim đập nhanh và không đều. Bệnh nhân có cảm giác đau ngực và cảm giác ngộp thở. Trong một số trường hợp nếu nhịp tim quá nhanh sẽ gây triệu chứng mệt mỏi, chóng mặt, buồn nôn, khó thở, thậm chí ngất xỉu.
Hẹp van hai lá - một trong những nguyên nhân hàng đầu gây rung nhĩ.
Hẹp van hai lá - một trong những nguyên nhân hàng đầu gây rung nhĩ.
Khi có yếu tố nghi ngờ hoặc có những biểu hiện hồi hộp đánh trống ngực, khó thở, đau ngực, chóng mặt, vã mồ hôi, các bác sĩ sẽ chỉ định bệnh nhân được làm điện tâm đồ.
Dựa vào lâm sàng tiến triển của rung nhĩ, chia làm các thể lâm sàng: Cơn rung nhĩ kịch phát: rung nhĩ kéo dài ≤ 7 ngày, cơn tự chuyển về nhịp xoang (nhịp của người bình thường); Rung nhĩ bền bỉ: rung nhĩ kéo dài > 7 ngày, phải dùng các biện pháp chuyển nhịp can thiệp mới có thể cắt được rung nhĩ; Rung nhĩ mạn tính: kéo dài hơn 1 năm và không thể cố gắng chuyển nhịp được bằng các biện pháp can thiệp.
Điều trị rung nhĩ thế nào?
Kiểm soát tần số thất và chuyển rung nhĩ về nhịp xoang: Trong phần lớn các trường hợp rung nhĩ, digitalis và/ hoặc thuốc chẹn thụ thể bêta giao cảm giúp làm tăng hiệu quả co bóp của tâm thất do làm chậm nhịp tim và có thể phục hồi được nhịp tim bình thường. Các thuốc khác như quinidin sulfat hoặc procainamid có thể được sử dụng thay thế nếu hai thuốc trên không hiệu quả. Bệnh nhân rung nhĩ không dung nạp khi đã điều trị tối ưu cần được tư vấn hỗ trợ của các chuyên gia về điện sinh lý học tim để có biện pháp can thiệp tích cực hơn.
Một vài trường hợp rung nhĩ dai dẳng được điều trị bằng sốc điện - người ta dùng một dòng điện phóng vào tim khi người bệnh được giảm đau hoặc gây mê để chuyển nhịp. Khi nhịp tim đã trở về bình thường, cần tiếp tục dùng thuốc duy trì để phòng ngừa rung nhĩ tái phát, nhất là khi bệnh nền là một bệnh mạn tính không thể điều trị triệt để được.
Đối với bệnh nhân rung nhĩ mạn tính, có thể điều trị rung nhĩ qua đường ống thông (catheter ablation). Triệt đốt bằng catheter là phương pháp có hiệu quả và là lựa chọn cho bệnh nhân rung nhĩ có triệu chứng điều trị nội khoa thất bại. Đặc biệt ở bệnh nhân trẻ tuổi triệt đốt bằng catheter có lợi ích hơn là điều trị bằng thuốc kéo dài nhiều năm. Tỷ lệ thành công từ 40 - 90% với chỉ một lần triệt đốt, nếu bệnh nhân tái phát rung nhĩ có thể tiếp tục tiến hành triệt đốt nhiều lần tiếp theo.
Phẫu thuật điều trị rung nhĩ: Phẫu thuật cô lập nhĩ trái (Maze) thường được chỉ định kết hợp với các phẫu thuật tim khác như mổ bắc cầu chủ vành, thay van tim, mổ sửa chữa trong bệnh tim bẩm sinh,... Phẫu thuật sẽ tạo các đường cắt cô lập từng vùng cơ nhĩ, tiểu nhĩ và các tĩnh mạch phổi nhưng vẫn bảo tồn được chức năng dẫn truyền trong nhĩ, nhờ vậy ngăn chặn được sự hình thành các vòng vào lại gây rung nhĩ.
Dự phòng huyết khối phòng chống đột quỵ: Thuốc chống đông dự phòng huyết khối được chỉ định dùng cho tất cả bệnh nhân rung nhĩ trừ duy nhất trường hợp rung nhĩ đơn độc ở bệnh nhân dưới 60 tuổi (không có bệnh lý tim mạch thực thể kèm theo) hoặc có chống chỉ định dùng thuốc chống đông máu.
Bệnh nhân rung nhĩ có bệnh cơ tim phì đại, hẹp van hai lá hoặc van cơ học phải được điều trị bằng thuốc kháng vitamin K như: wafarin hoặc sintrom.
Các phương pháp dự phòng bệnh van tim và bệnh mạch vành đều giúp làm giảm nguy cơ xuất hiện rung nhĩ. Bệnh nhân rung nhĩ có thể không có triệu chứng gì. Đa số thấy hồi hộp đánh trống ngực, khó thở, đau ngực, chóng mặt, vã mồ hôi. Một số bệnh nhân vào viện vì các biến chứng của bệnh như đột quỵ do tắc mạch não hay các biểu hiện của tắc mạch chi. Vì vậy, đối với người cao tuổi, người nằm trong nhóm nguy cơ cao cần hạn chế thuốc lá, rượu, bia. Đây là một trong những phương pháp phòng bệnh hiệu quả và an toàn.
BS. Ngô Tuấn Anh

Rối loạn chức năng tuyến giáp

Tuyến giáp là tuyến nội tiết quan trọng và lớn nhất, ảnh hưởng đến hầu hết mọi cơ quan trong cơ thể. Khi chức năng tuyến giáp bị rối loạn thì các tế bào trong cơ thể sẽ không còn hoạt động hiệu quả như bình thường, khiến bạn dễ mắc nhiều bệnh khác.
Tuyến giáp có vị trí nằm phía trước cổ hình cánh bướm, ngang hàng với các đốt xương sống C5-T1, gồm 2 thuỳ (thuỳ phải, thuỳ trái) và 1 eo ở giữa. Tuyến giáp có khả năng sinh tổng hợp 2 hormone là triiodothyronin (T3) và tetraiodothyronin (T4) với vai trò quan trọng là: điều hoà chuyển hoá mỡ và carbonhydrat, điều hoà hoạt động hô hấp, thân nhiệt, bài tiết trong cơ thể, sự phát triển của não, hoạt động của hệ tim mạch, thần kinh,…
Nếu chức năng tuyến giáp bị suy giảm (hay còn gọi là nhược giáp, suy giáp, giảm năng tuyến giáp) dẫn đến giảm sản xuất hormone tuyến giáp dưới mức bình thường, làm cho nồng độ hormone tuyến giáp trong máu giảm, từ  đó gây ra những tổn thương ở mô và rối loạn chuyển hóa. Khi đó, người bệnh sẽ bị giảm nhịp tim, giảm cung lượng tim và tốc độ tuần hoàn, giảm độ co cơ, giảm nhu động ruột, giảm tạo máu và thân nhiệt giảm,…  với một số biểu hiện dễ thấy như: mệt mỏi, tăng cân, da, tóc khô, khó tập trung,…
Ngược lại, nếu nồng độ hormone tuyến giáp trong máu tăng cao (hay còn gọi là cường giáp, tăng năng tuyến giáp) do hoạt động quá mức của tuyến giáp và gây ra những tổn hại về mô, chuyển hóa (nhiễm độc giáp) thì cơ thể xuất hiện các triệu chứng như: rối loạn chuyển hóa thân nhiệt (da bàn tay ấm và ẩm ướt, da nóng), tăng cảm giác khát (uống nhiều, đi tiểu nhiều), nhịp tim thường xuyên nhanh, tăng nhu động ruột,… Nếu không được điều trị kịp thời, cả hai tình trạng suy giảm hoặc hoạt động quá mức của tuyến giáp sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến chức năng tuyến giáp, thậm chí có thể dẫn đến ung thư tuyến giáp cùng nhiều biến chứng nguy hiểm như: hôn mê, tử vong,…
Rối loạn chức năng tuyến giáp
Rối loạn chức năng tuyến giáp gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe (Ảnh minh họa)
Nguyên nhân chính gây ra tình trạng rối loạn chức năng tuyến giáp là do rối loạn hệ miễn dịch, tức là cơ thể tự sinh ra các kháng thể chống lại các tế bào tuyến giáp. Ngoài ra, bệnh còn do một số nguyên nhân khác như: di truyền, căng thẳng thần kinh, quá tải hoặc thiếu i-ốt... Theo các chuyên gia y tế, i-ốt là chất tối cần thiết cho sức khỏe của tuyến giáp và sự tổng hợp hormone tuyến giáp. Tuy nhiên, cơ thể không tự tổng hợp được i-ốt mà chỉ hấp thu qua đường thức ăn. Không đủ i-ốt, cơ thể dễ mắc các rối loạn tự miễn, trong đó có suy chức năng tuyến giáp và ung thư. Quá tải i-ốt có thể gây cường giáp trên bệnh nhân thường có biểu hiện bệnh lý tuyến giáp trước đó. Vì vậy, việc bổ sung i-ốt hợp lý có vai trò quan trọng trong điều trị hầu hết các rối loạn ở tuyến giáp bao gồm nhược giáp, cường giáp, bướu giáp và ung thư tuyến giáp.
Việc điều trị các bệnh lý của tuyến giáp cũng gây ra những khó khăn cho nhiều bệnh nhân. Tây y thường dùng thuốc để điều trị các bệnh lý tuyến giáp. Tuy nhiên, việc dùng thuốc lâu dài ít nhiều sẽ gây tác dụng phụ cho cơ thể, chưa kể nguy cơ biến chứng cũng có thể xảy ra. Đối với những người lựa chọn giải pháp phẫu thuật, việc điều trị cũng sẽ rất tốn kém. Trong khi đó, Đông y sử dụng những dược liệu thiên nhiên để điều trị bởi những ưu điểm như: An toàn cho cơ thể người bệnh khi điều trị lâu dài; bổ sung dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Đây cũng là xu thế trong việc phòng ngừa và điều trị các bệnh lý tuyến giáp ngày nay.
Hiện nay, nhiều bác sĩ và bệnh nhân đang tin tưởng lựa chọn các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, an toàn và hỗ trợ tăng cường chức năng tuyến giáp. Nổi bật trong số đó là thực phẩm chức năng Ích Giáp Vương. Sản phẩm Ích Giáp Vương có thành phần chính là hải tảo, một loại rong biển có chứa nhiều i-ốt và chất dinh dưỡng tự nhiên, được kết hợp với các thảo dược quý khác như khổ sâm, bán biên liên, ba chạc, cao neem,… Ích Giáp Vương là công thức toàn diện giúp tăng cường sức khỏe tuyến giáp, hỗ trợ điều trị và phòng ngừa các bệnh lý do rối loạn ở tuyến giáp như nhược giáp, cường giáp, bướu tuyến giáp, ung thư tuyến giáp, giảm đau, làm mềm khối u tuyến giáp; giúp điều hòa hormone tuyến giáp, giảm các triệu chứng của bệnh lý tuyến giáp.

Làm gì khi bị ngộ độc rượu?

Ngộ độc rượu có nhiều mức khác nhau. Trong trường hợp nhẹ, người uống có biểu hiện nhức đầu, buồn nôn, mất khả năng vận động tự chủ,… Trường hợp nặng, bệnh nhân có thể hôn mê, trụy tim mạch, có thể nguy hiểm tới tính mạng nếu không được cấp cứu kịp thời.
Trong trường hợp nhẹ, người uống có biểu hiện nhức đầu, buồn nôn hoặc nôn, không điều khiển được hành vi, nói líu lưỡi, gọi nhầm tên người… có thể xử trí tại nhà như sau:
- Cho bệnh nhân nằm ở phòng ấm, thoáng, tránh gió lạnh. Sau đó, cởi khuy áo cổ, tháo thắt lưng và đặt bệnh nhân nằm đầu thấp, nằm nghiêng để có thể nôn ra hết chất độc của rượu.
- Cho bệnh nhân uống nhiều nước lọc để pha loãng nồng độ cồn trong cơ thể và giúp cho quá trình đào thải rượu được nhanh chóng. Không cho uống các loại nước giải khát hay nước tăng lực thông thường, đặc biệt là các loại nước có gas, bởi loại nước này có thể cho ra lượng khí carbon dioxide trong dạ dày và ruột non, đẩy nhanh tốc độ hấp thụ rượu làm tăng nguy cơ ngộ độc.
Làm gì khi bị ngộ độc rượu?
Làm gì khi bị ngộ độc rượu?
Cho người say rượu uống nước sắc gừng tươi, nước ép cà chua, bưởi có tác dụng giải rượu  hiệu quả.
- Nếu bệnh nhân buồn nôn để cho nôn hết, có thể kích thích họng nhẹ để gây nôn, sau đó xát mạnh hai bên má.
- Không tự ý cho uống các loại thuốc bổ gan, vitamin, thuốc chống nôn.
Có thể áp dụng một số bài thuốc dân gian sau sau đây có tác dụng giải rượu rất tốt:
- Thái một củ gừng tươi khoảng 60g thành từng lát mỏng, sau đó đem sắc nước uống. Vị gừng nóng có tác dụng chống say rượu, vì gừng làm cho các mạch máu lưu thông tốt hơn, từ đó hóa giải nhanh chất cồn trong cơ thể.
- Uống nước ép mía, cà chua, bưởi hoặc nước sắc đậu đen cũng có tác dụng giải ngộ độc rượu tốt.
Cần lưu ý, khi chăm sóc người bị ngộ độc rượu không nên để bệnh nhân ngủ li bì suốt ngày hoặc suốt đêm vì bệnh nhân có thể bị hạ đường huyết, hạ thân nhiệt hoặc có thể bị sặc do khi say rượu nằm ngủ, dịch dạ dày nôn ra và bị hít vào phổi, rất nguy hiểm. Do đó, cứ khoảng 1 - 2 tiếng, người nhà nên đánh thức bệnh nhân, cho ăn cháo loãng ấm nóng. Trường hợp bệnh nhân có biểu hiện quá mệt không thể dậy được, gọi lâu không tỉnh, không ăn uống được hoặc cứ ăn vào là nôn thì cần đưa ngay bệnh nhân tới cơ sở y tế gần nhất để các bác sĩ kiểm tra tình trạng sức khỏe và xử trí kịp thời, tránh diễn biến nặng có thể nguy hiểm đến tính mạng.
Bác sĩ Vũ Minh

Coi chừng tăng kali máu ở người suy thận

Ở người suy thận giai đoạn cuối thường có rất nhiều nguy cơ do thận đã hoàn toàn mất chức năng và một trong những biến chứng nguy hiểm đó là biến chứng do kali máu tăng.
Vai trò của kali trong cơ thể
Kali là một chất điện giải cực kỳ quan trọng của cơ thể với vai trò không thể thiếu trong các hoạt động thần kinh - cơ. Thừa kali luôn là một mối đe dọa tiềm tàng cho tính mạng bệnh nhân do kali máu tăng thường gây triệu chứng loạn nhịp tim nguy hiểm.
Tổng lượng kali trong toàn cơ thể (bao gồm trong tế bào, khoảng kẽ và trong máu vào khoảng 50mEq/kg cân nặng với 98% lượng kali ở trong tế bào. Nồng độ kali máu bình thường dao động từ 3,5 - 5,5mEq/L. Khi lượng kali máu trên 5,5mEq/L được gọi là tăng kali máu và khi lượng kali tăng trên 6,5mEq/L có thể gây những loạn nhịp nguy hiểm cho bệnh nhân.
Coi chừng tăng kali máu ở người suy thận
Người suy thận mạn phải tránh những thực phẩm chứa nhiều kali như chuối, đu đủ.
Lượng kali máu thay đổi phụ thuộc vào lượng kali trong, ngoài tế bào và lượng kali mất qua thận, qua mồ hôi, qua phân. Một chế độ ăn bình thường đảm bảo tương đối đầy đủ cho việc bổ sung lượng kali mất hàng ngày.
Kali được đưa vào cơ thể chủ yếu qua thức ăn. Một phần qua việc các tế bào trong cơ thể (như hồng cầu) phân hủy giải phóng ra và đôi khi do tiêm truyền các loại thuốc, dịch có chứa nhiều kali dẫn đến tăng kali máu.
Kali tăng khi nào?
Thận là cơ quan đào thải kali chủ yếu trong cơ thể. Có thể nói, khi chức năng thận còn tốt, lượng kali máu không bao giờ vượt quá ngưỡng tăng. Vì vậy, khi thận bị suy, đặc biệt là những trường hợp thận suy hoàn toàn phải lọc máu chu kỳ hoặc lọc màng bụng, lượng kali luôn có xu hướng tăng cao trong máu.
Loạn nhịp tim sẽ xuất hiện và gây những biến chứng nguy hiểm
Biểu hiện của tăng kali máu nói chung là nghèo nàn, bệnh nhân chỉ thấy cảm giác yếu cơ, liệt cơ, đau mỏi các bắp chân, bắp tay, dị cảm, chuột rút, buồn nôn, nôn. Các triệu chứng tim mạch luôn có và là biến chứng nguy hiểm. Bệnh nhân có cảm giác đánh trống ngực, nhịp tim bị bỏ nhịp (ngoại tâm thu), nặng hơn sẽ có tụt huyết áp, ngừng tim và bệnh nhân sẽ tử vong nhanh chóng nếu không được cấp cứu kịp thời. Làm điện tâm đồ để xác định những dấu hiệu của tăng kali máu cũng như những loạn nhịp đặc trưng của tăng kali máu: sóng T cao, nhọn, đối xứng; muộn hơn có phức bộ QRS giãn rộng, hình lưỡi mác... nhịp nhanh thất, rung thất... và xét nghiệm nhanh cho thấy nồng độ kali máu tăng rất cao.
Làm gì khi có biểu hiện tăng kali máu?
Khi bệnh nhân suy thận mạn có các biểu hiện nghi ngờ do tăng kali máu, lập tức dừng tất cả các nguồn đang đưa kali vào cơ thể như các loại thuốc hoặc dịch truyền có chứa kali. Sau đó nhanh chóng xác định xem bệnh nhân có tăng kali máu thực sự hay không. Nếu có tăng kali máu, nhanh chóng làm giảm nồng độ kali bằng các biện pháp:
Đẩy kali từ máu vào trong tế bào (tổng lượng kali toàn cơ thể vào khoảng 3.500mEq trong đó, lượng kali máu chỉ xấp xỉ 20mEq nên khả năng chứa kali của tế bào là rất lớn) bằng truyền insulin nhanh với dung dịch đường glucose (10, 20%); khí dung thuốc kích thích beta 2 giao cảm như salbutamol, albuterol; kiềm hóa máu bằng dung dịch natribicarbonate...
Dùng thuốc đối kháng để làm giảm hoặc mất tác dụng gây loạn nhịp của kali bằng tiêm hoặc truyền canxi.
Tất cả các biện pháp này chỉ làm giảm kali ở máu mà không làm giảm kali thực sự nên khi các thuốc hết tác dụng, lượng kali máu lại tăng cao ngay. Vì vậy, cuối cùng, việc loại bỏ lượng kali thừa ra khỏi cơ thể vẫn là quan trọng hàng đầu. Các biện pháp bao gồm tăng thải kali qua nước tiểu bằng các thuốc lợi tiểu mạnh; lọc màng bụng hoặc chạy thận nhân tạo (lọc máu chu kỳ hoặc lọc máu liên tục) để loại bỏ kali. Trong một số trường hợp, có thể sử dụng nhựa trao đổi ion để loại bỏ kali qua đường ruột bằng cách cho bệnh nhân uống sodium polystyrene sulfonate resin (kayexalate) với liều 25 - 50g kết hợp với sorbitol để gây tiêu chảy kéo kali ra khỏi cơ thể.
Lời khuyên thầy thuốc
Ở người suy thận mạn, luôn phải cảnh giác việc tăng kali máu nên cần chú ý tới một số biện pháp dự phòng như: không uống, tiêm truyền những thuốc hoặc dung dịch có chứa kali; chế độ ăn hàng ngày cũng phải tránh những thực phẩm có chứa nhiều kali như chuối, đu đủ, sữa có nhiều kali. Thường xuyên chú ý những dấu hiệu của tăng kali máu và làm xét nghiệm thường xuyên để kiểm tra. Tuân thủ đúng lịch lọc màng bụng hoặc lọc máu chu kỳ để loại bỏ lượng kali thừa.
TS.BS. Vũ Đức Định