Văn phòng Diện Chẩn Sống Khỏe_ Khu nhà 102 Ngõ 95 Chùa Bộc-Đống Đa-Hà Nội _ ĐT : 0906143408

Hướng dẫn lý thuyết và thực hành cơ bản cho những quí vị thực sự yêu thích Diện Chẩn . Hãy gọi cho chúng tôi để biết lịch .

Tư vấn sức khỏe , chẩn bệnh đưa ra phác đồ miễn phí.

Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp

Huyết áp là áp lực của máu tác động lên thành mạch. Một người được gọi là bị tăng huyết áp (THA)khi có huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90mmHg.
Đa số người bị THA đều không tìm thấy căn nguyên, vì vậy gọi là THA nguyên phát. Ở những người này thường thấy có một số yếu tố làm cho dễ bị bệnh hơn người không có các yếu tố đó - được gọi là các yếu tố nguy cơ. Các yếu tố nguy cơ của bệnh THA thường gặp là: ăn mặn, béo phì, ít vận động, có nhiều căng thẳng trong cuộc sống, trong gia đình có người bị THA, tuổi cao. Những người bị tiểu đường, rối loạn mỡ máu thì cũng rất dễ có bệnh THA đi kèm.
Siêu âm chẩn đoán bệnh. 
Chỉ có khoảng 10% các trường hợp là tìm được nguyên nhân gây THA. THA có nguyên nhân hay gặp ở tuổi trẻ (dưới 30 tuổi). Một số nguyên nhân dẫn đến THA là bệnh thận cấp hoặc mạn tính, bị hẹp động mạch thận, hẹp eo động mạch chủ, bệnh hẹp tắc mạch nhiều nơi (còn gọi là bệnh Takayasu), do nhiễm độc thai nghén, có khối u tuyến thượng thận, bệnh của tuyến giáp, tuyến yên, do dùng một số thuốc có chứa corticoid, thuốc tránh thai, cam thảo...
THA được gọi là “kẻ giết người thầm lặng” vì phần lớn những người bị THA đều không thấy có khó chịu gì, một  số ít có thể thấy đau đầu, nóng bừng mắt. Nếu không được đo huyết áp định kỳ thì người bị THA chỉ được phát hiện khi có các biến chứng nặng như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, tổn thương đáy mắt gây giảm thị lực hay đã có biểu hiện suy tim...
Vậy làm thế nào để biết mình bị THA?
Chỉ có một cách duy nhất, đơn giản và dễ thực hiện để biết có bị THA hay không là đo huyết áp định kỳ. Đo huyết áp cần được thực hiện mỗi năm một lần với người dưới 40 tuổi, còn những người từ 40 tuổi trở lên thì cần được đo huyết áp 6 tháng/lần. Mỗi người cần biết rõ số đo huyết áp như số tuổi của mình.
Đo huyết áp có thể được thực hiện tại bệnh viện, phòng khám hoặc tại nhà. Máy đo huyết áp có thể là loại máy đo cột thủy ngân, máy đo loại đồng hồ hay máy đo tự động. Tuy nhiên cần sử dụng loại băng đo huyết áp cuốn ở cánh tay. Nếu đo tại nhà cần thực hiện đúng chỉ dẫn của bác sĩ và hướng dẫn của nhà sản xuất máy và cần phải biết cách đo huyết áp đúng.
Đo huyết áp thế nào là đúng?
Để đo được con số huyết áp chính xác, cần tuân thủ một số điểm như sau:
- Ngồi nghỉ trước khi đo, ít nhất 5-10 phút, trong phòng yên tĩnh.
- Không dùng chất kích thích (cà phê, hút thuốc) trước khi đo 2 giờ.
- Tư thế đo: ngồi tựa vào lưng ghế, cánh tay duỗi thẳng trên bàn, nếp khuỷu ngang mức với tim. Có thể đo thêm ở tư thế nằm. Đối với người cao tuổi hoặc có bệnh đái tháo đường, nên đo thêm tư thế đứng nhằm xác định có “hạ huyết áp tư thế” hay không.
Sử dụng huyết áp kế với bao hơi có bề dài bằng 80%; bề rộng bằng 40% chu vi cánh tay. Quấn băng đủ chặt, bờ dưới của bao đo ở trên nếp lằn khuỷu 2cm. Đặt máy ở vị trí thích hợp sao cho máy hoặc mốc 0 của thang đo ngang mức với tim.
Nên đo huyết áp ít nhất hai lần, mỗi lần cách nhau 1-2 phút. Nếu số đo huyết áp giữa 2 lần đo chênh nhau trên 10mmHg, cần đo lại lần 3 sau khi đã nghỉ trên 5 phút. Lần đo huyết áp đầu tiên, nên đo huyết áp ở cả hai tay.
Huyết áp tâm thu tương ứng với lúc xuất hiện tiếng đập đầu tiên và huyết áp tâm trương tương ứng với khi mất hẳn tiếng đập.
Trường hợp nghi ngờ, có thể tới các phòng khám chuyên khoa để được theo dõi huyết áp liên tục bằng máy đo tự động trong 24 giờ (Holter huyết áp).
Thế nào là tăng huyết áp?
Chẩn đoán xác định THA dựa vào con số huyết áp đo được sau khi đo huyết áp “đúng”.
Ngưỡng chẩn đoán THA thay đổi tùy theo từng cách đo huyết áp:
- Đo tại phòng khám hoặc bệnh viện, sau khi đo 2 - 3 lần, mỗi lần đo ít nhất 2 lượt, nếu  huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90 mmHg thì khẳng định là bị THA.
- Đo tại nhà: tự đo nhiều lần mà  huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 135 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 85 mmHg thì cũng xác định là bị THA.
- Nếu đo bằng máy đo HA Holter 24 giờ thì xác định là bị THA khi huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 125 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 80 mmHg.
Phân độ THA
THA được phân thành các mức độ từ nhẹ đến nặng dựa vào con số huyết áp đo tại phòng khám (bảng 1).
Điều trị THA 1. Nguyên tắc chung:
THA là bệnh mạn tính nên cần theo dõi đều, điều trị đúng và đủ  một cách liên tục (lâu dài, suốt đời).
THA bản thân nó lại là một yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của các bệnh tim mạch như bệnh động mạch vành tim, nhồi máu cơ tim, bệnh mạch máu não, bệnh động mạch ngoại biên, phình tách động mạch chủ... nên điều trị THA là rất quan trọng - Mục tiêu điều trị là nhằm giảm tối đa nguy cơ tim mạch trước mắt cũng như lâu dài, ngăn ngừa tiến triển của THA, phòng ngừa các biến chứng và tử vong do nguyên nhân tim mạch, kéo dài tuổi thọ và chất lượng sống...
- Huyết áp mục tiêu cần đạt là dưới 140/90mmHg và thấp hơn nữa nếu người bệnh vẫn dung nạp được. Khi người bệnh bị THA lại có kèm đái tháo đường hoặc có nguy cơ tim mạch từ cao đến rất cao hoặc đã có biến chứng như TBMMN, NMCT, suy tim, bệnh thận mạn tính... thì huyết áp mục tiêu cần đạt là dưới 130/80 mmHg.
- Khi điều trị đã đạt được Huyết áp mục tiêu thì cần tiếp tục duy trì phác đồ điều trị lâu dài kèm theo việc theo dõi chặt chẽ, định kỳ để điều chỉnh kịp thời.
- Điều trị cần hết sức tích cực ở bệnh nhân đã có tổn thương cơ quan đích (các cơ quan đích quan trọng là: Tim, thận, mắt, não). Không nên hạ huyết áp quá nhanh để tránh biến chứng thiếu máu ở các cơ quan đích trừ tình huống cấp cứu.
- Căn cứ theo từng bệnh cảnh và cơ địa bệnh nhân cụ thể, người thầy thuốc sẽ đưa ra phương thức điều trị hợp lý nhất cho người bệnh.
2. Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống:
Đây là các biện pháp không thể thiếu mà mọi bệnh nhân cần phải thực hiện để đạt được huyết áp mục tiêu và giảm số thuốc cần dùng. Các biện pháp đó là:
- Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng: Ăn nhạt: Dưới 100 mmol natri/ngày; Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi; Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và acid béo no.
- Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ thể (BMI) từ 18,5 - 23kg/m2.
- Cố gắng duy trì vòng bụng dưới  90cm ở nam và dưới 80cm ở nữ.
- Hạn chế uống rượu, bia: Dưới 3 cốc/ngày với nam và 2 cốc/ngày với nữ, tổng cộng dưới 14 cốc/tuần (nam) và  9 cốc/tuần (nữ) (cốc tiêu chuẩn tương đương với 360ml bia hoặc 150ml rượu vang hoặc 30ml rượu mạnh ).
- Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào.
- Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, chạy bộ hoặc vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30 - 60 phút mỗi ngày.
- Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý.
- Tránh bị lạnh đột ngột.
3. Điều trị THA bằng thuốc:
Có rất nhiều loại thuốc khác nhau có tác dụng điều trị giúp hạ huyết áp, bảo vệ các cơ quan đích. Tuy nhiên có thể xếp thành 7 nhóm chính là: Nhóm các thuốc lợi tiểu, nhóm chẹn kênh canxi, nhóm chẹn beta giao cảm, nhóm chẹn alpha giao cảm, nhóm ức chế men chuyển, nhóm chẹn thụ thể angiotensin, nhóm tác động thần kinh trung ương. Mỗi thuốc này có những ưu nhược điểm riêng và phù hợp với từng đối tượng người bệnh khác nhau (xem bảng 2).
- Chọn thuốc khởi đầu: tùy theo từng người bệnh, căn cứ vào con số huyết áp, bệnh cảnh (các yếu tố nguy cơ, bệnh lý kèm theo) và cơ địa cụ thể của bệnh nhân mà người thầy thuốc sẽ đưa ra phương thức điều trị hợp lý nhất. THA độ 1: Có thể lựa chọn: lợi tiểu nhóm thiazide liều thấp hoặc  ức chế men chuyển hoặc chẹn kênh canxi loại tác dụng kéo dài hoặc chẹn beta giao cảm (nếu không có chống chỉ định);
THA độ >1: thường  phải  phối hợp 2 loại thuốc (lợi tiểu phối hợp với chẹn kênh canxi hoặc ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể  angiotensin;  chẹn kênh canxi phối hợp với  chẹn bêta giao cảm; chẹn kênh canxi phối hợp ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể...), nên khởi đầu với liều thấp.
- Nếu chưa đạt huyết áp mục tiêu: chỉnh liều tối ưu hoặc bổ sung thêm một loại thuốc khác cho đến khi đạt huyết áp mục tiêu.
- Việc điều trị thường là ngoại trú tại các phòng khám. Một số trường hợp cần đến các cơ sở chuyên khoa sâu về tim mạch là:
THA tiến triển: THA nặng (HA lớn hơn hoặc bằng 220/120 mmHg), THA đe dọa có biến chứng (như TBMMN thoáng qua, suy tim...) hoặc khi các biến cố tim mạch mới xuất hiện;
Nghi ngờ THA thứ phát hoặc THA ở người trẻ;
THA kháng trị mặc dù đã dùng nhiều loại thuốc phối hợp (lớn hơn hoặc bằng 3 thuốc, trong đó ít nhất có 1 thuốc lợi tiểu) hoặc không thể dung nạp với các thuốc hạ áp hoặc có quá nhiều bệnh nặng phối hợp;
Một số thể THA đặc biệt như THA ở phụ nữ có thai...
4. Theo dõi và đánh giá kết quả điều trị:
Điều trị đạt kết quả tốt là khi đạt được huyết áp mục tiêu và ngăn ngừa được các biến chứng tim mạch cũng như tổn thương cơ quan đích (đột quỵ, thiếu máu não thoáng qua, sa sút trí tuệ, phì đại thất trái, suy tim, nhồi máu cơ  tim, cơn đau thắt ngực, bệnh mạch máu ngoại vi, xuất huyết hoặc xuất tiết võng mạc, phù gai thị, suy thận...).
Vì vậy ngoài việc theo dõi thường xuyên con số huyết áp, người bệnh cần được định kỳ kiểm tra một số xét nghiệm như: Phân tích nước tiểu (albumin niệu và soi vi thể); xét nghiệm sinh hóa máu (đường máu khi đói; thành phần lipid máu: cholesterol toàn phần, HDL-C, LDL-C, triglycerid; điện giải máu - đặc biệt là kali; acid uric máu; creatinine máu), xét nghiệm về huyết học (hemoglobin và hematocrit; điện tâm đồ, siêu âm doppller tim, siêu âm Doppler mạch cảnh nhằm đánh giá tổng thể và chi tiết hơn với  các mục tiêu là:
- Phát hiện tổn thương cơ quan đích.
- Loại trừ các nguyên nhân gây THA thứ phát.
- Đánh giá các yếu tố nguy cơ tim mạch khác. Trên cơ sở đó, điều chỉnh chiến lược điều trị và huyết áp mục tiêu.
- Tối ưu phác đồ điều trị THA: dựa vào các chỉ định bắt buộc hoặc ưu tiên của từng nhóm thuốc hạ áp trong các thể bệnh cụ thể. Phối hợp nhiều thuốc để tăng khả năng kiểm soát huyết áp, giảm tác dụng phụ và tăng việc tuân thủ điều trị của người bệnh.
Điều trị các bệnh phối hợp và điều trị dự phòng (tiên phát và thứ phát) ở nhóm có nguy cơ tim mạch cao hoặc rất cao.
PHÒNG BỆNH THA
Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống cũng chính là những biện pháp để phòng THA ở người trưởng thành.
Nâng cao nhận thức và hiểu biết về bệnh THA, biến chứng của THA và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác... sẽ giúp mỗi chúng ta phòng chống và điều trị thành công THA.
TS.BS. Nguyễn Thị Bạch Yến
(Viện Tim mạch Việt Nam)
Dự án Quốc gia phòng chống bệnh tăng huyết áp
- Viện Tim  mạch Việt Nam
 
 

Theo dõi đường huyết để kiểm soát bệnh đái tháo đường

Theo dõi đường máu thường xuyên giúp kiểm soát tốt đường máu là một trong những yếu tố quyết định điều trị thành công bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) vì đường máu có liên quan chặt chẽ với các biến chứng của ĐTĐ.
 Hướng dẫn bệnh nhân sử dụng máy đo đường huyết cá nhân.
Tầm quan trọng của theo dõi đường máu Theo nghiên cứu UKPDS - 1 nghiên cứu chuẩn về ĐTĐ týp 2 tại châu Âu, khi HbA1C tăng 1% (tương ứng đường máu tăng khoảng 2 mmol/l) thì nguy cơ bị các biến chứng thận, mắt, thần kinh tăng 25% và nguy cơ bị nhồi máu cơ tim tăng 16%. Trước đó, một nghiên cứu rất lớn khác nhưng ở các bệnh nhân ĐTĐ týp 1 là nghiên cứu DCCT cũng đã xác nhận các lợi ích của kiểm soát tốt đường máu. Ngược lại khi đường máu hạ thấp dưới 3mmol/l thì bệnh nhân có nguy cơ rất cao bị hôn mê, thậm chí tử vong. Do vậy bệnh nhân ĐTĐ cần cố gắng duy trì đường máu ở mức càng gần bình thường càng tốt. Tuy nhiên nếu không đo đường máu thì không thể biết được đường máu mỗi người là cao, thấp hay bình thường. Đặc biệt khi đường máu cao trong khoảng 7-16mmol/l có khả năng gây nhiều biến chứng hoặc là thấp tới 3-4mmol/l sắp gây hôn mê hạ đường máu thì cảm giác của đa số người bệnh vẫn là "bình thường". Để tránh xa vùng "đường máu nguy hiểm" này thì chỉ có cách duy nhất là phải kiểm tra đường máu thường xuyên, hàng ngày và điều chỉnh ngay chế độ ăn uống, thuốc men nếu kết quả đường máu là bất thường, trước khi bệnh nhân có các biểu hiện lâm sàng. Ngoài ra, đo đường máu còn giúp người bệnh:
- Hiểu biết rõ hơn mối tương quan giữa đường máu và hoạt động thể lực, bài tập thể dục thể thao mà người bệnh đang thực hiện, với những loại thức ăn  đang ăn hoặc với các yếu tố khác như lối sống, đi du lịch, stress, hoặc khi  bị một bệnh khác kèm theo.
- Kiểm soát hay theo dõi đường máu còn cho biết lối sống mà bệnh nhân lựa chọn, các thuốc mà bệnh nhân đang dùng có hiệu quả đến mức nào trong giai đoạn điều trị bệnh ĐTĐ.
Hiện nay, theo khuyến cáo mới của Hiệp Hội ĐTĐ Hoa Kỳ và Canada, được nhiều thầy thuốc chuyên khoa ủng hộ và thực hiện, thì bệnh nhân ĐTĐ cần được điều trị sớm và tích cực hơn, phối hợp thuốc sớm hơn để đưa đường máu nhanh chóng về mức càng gần bình thường càng tốt, hạn chế tối đa các biến chứng. Nhằm đạt mục tiêu này và tránh được nguy cơ bị hạ đường máu thì vai trò của kiểm tra đường máu đều đặn lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Theo dõi đường máu thường xuyên là cơ sở vững chắc kiểm soát tốt bệnh ĐTĐ
- Nếu chỉ dựa vào các dấu hiệu lâm sàng sẽ không thể biết được đường máu của một người bệnh ĐTĐ có bình thường hay không. Thông thường thì người bệnh vẫn nghĩ là đường máu của mình bình thường ngay cả khi đường máu cao gấp 2-3 lần mức cho phép, đồng nghĩa là các biến chứng có cơ hội lớn để phát triển.
-  Chỉ bằng cách đo nhiều lần mới cho biết đường máu của họ đang nằm ở mức nào, có nguy hiểm hay không và có cần can thiệp hay không, can thiệp bằng cách nào, đến mức nào để đưa đường máu về bình thường càng nhanh càng tốt, hạn chế được tối đa nguy cơ xuất hiện và tiến triển của biến chứng.
Thử lúc nào và bao nhiêu lần?
Nên theo sự chỉ dẫn của bác sĩ. Thông thường người ta thử đường  máu ở các thời điểm sau:
Trước bữa ăn sáng.
Trước bữa ăn trưa.
Trước bữa ăn tối.
Trước khi đi ngủ.
Khi mới bắt đầu theo dõi đường máu, bệnh nhân nên thử máu nhiều lần trong ngày để có ý niệm về sự thay đổi của đường máu đối với sinh hoạt của bệnh nhân như ăn uống, vận động thân thể và thuốc men. Về sau khi đã kiểm soát được đường máu, bệnh nhân có thể thử ít lần hơn.
Để biết xem thuốc bệnh nhân đang dùng có phù hợp với việc ăn uống hay không, thỉnh thoảng cũng nên thử máu 2 giờ sau bữa ăn.
Khi đau yếu, bị stress hay có sự thay đổi trong lối sinh hoạt thường ngày, bệnh nhân nên thử máu nhiều lần hơn.
Tuy nhiên cần lưu ý khi thử đường máu thường trước bữa ăn, 2 giờ sau khi bắt đầu ăn và trước khi đi ngủ đang được khuyến cáo nhiều nhất. Hoặc có thể thử bất cứ lúc nào trong người thấy có dấu hiệu đường máu lên cao hay xuống thấp (khó chịu, mệt mỏi bất thường).
Điều trị thành công bệnh ĐTĐ có nghĩa là giữ được đường máu trong giới hạn cho phép, không để đường máu tăng quá cao hoặc tụt thấp, ngăn ngừa sự xuất hiện các biến chứng của ĐTĐ cả biến chứng cấp và mạn tính.
Trước một chuyến hành trình kéo dài.
Trước khi vận động nặng, trước và sau khi chơi thể thao.
Khi mới được chẩn đoán hoặc khi thay đổi chế độ điều trị thì bệnh nhân nên thử 2-4 lần mỗi ngày vào trước các bữa ăn chính và trước khi đi ngủ. Còn khi đường máu đã tương đối ổn định thì người bệnh vẫn nên thử 1-3 lần mỗi tuần. Ngoài ra, người bệnh cũng nên chú ý đo đường máu sau bữa ăn 2 giờ hoặc khi có biểu hiện hạ đường máu hay bị ốm. Nhiều nghiên cứu cho thấy tăng đường máu sau ăn có khả năng gây biến chứng tương đương với tăng đường máu lúc đói, nhất là các biến chứng tim mạch. Riêng đối với bệnh nhân ĐTĐ là phụ nữ có thai thì yêu cầu là phải đo đường máu 4-7 lần mỗi ngày (gồm trước, sau bữa ăn và nửa đêm) trong suốt thời gian mang thai để kịp thời điều chỉnh sao cho đường máu luôn trong giới hạn bình thường, đảm bảo cho thai phát triển tốt còn mẹ thì tránh được các biến chứng nặng của bệnh ĐTĐ.    
Dự án quốc gia Phòng chống bệnh đái tháo đường - BV Nội tiết TW
 
 

Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Sụp mi mắt, bệnh thành dị tật

Sụp mi là sự sa của mi mắt trên xuống thấp hơn vị trí bình thường. Nguyên nhân gây sụp mi mắt bao gồm tổn thương của dây thần kinh số 3 và hội chứng Horner; các nguyên nhân tại chỗ gồm tổn thương bẩm sinh hoặc mắc phải của các cơ nâng mi, khối u và nhiễm khuẩn hoặc do bệnh nhược cơ.
 Sụp mi mắt phải trong hội chứng Horner.
Những hình thái sụp mi thường gặp Sụp mi được chia làm hai nhóm chính: sụp mi bẩm sinh và sụp mi mắc phải.
Sụp mi bẩm sinh: chiếm khoảng 55 - 75% các trường hợp, trong đó sụp mi đơn thuần thường gặp nhất, có thể kết hợp với tật khúc xạ, không gây nhược thị; Sụp mi bẩm sinh phối hợp với bất thường vận nhãn; Sụp mi bẩm sinh phối hợp với những dị dạng ở mặt.
Sụp mi mắc phải có thể xuất hiện lúc sinh và do đó có thể bị nhầm với sụp mi bẩm sinh. Sụp mi mắc phải chiếm khoảng 25% các trường hợp sụp mi và được chia làm 5 nhóm:
Sụp mi do tổn thương thần kinh, liệt vận nhãn với mức độ khác nhau, liệt thần kinh số III thường kèm theo liệt vận nhãn, thường mất cảm giác do tổn thương dây V; Hội chứng khe dơi, liệt các dây thần kinh số III, IV, V, VI cùng bên làm cho nhãn cầu bên tổn thương bất động nhìn thẳng, mi mắt sụp, giãn đồng tử, mất cảm giác, tê bì vùng dây V chi phối; Hội chứng đỉnh hố mắt: gồm hội  chứng khe dơi kèm theo tổn thương thị thần kinh; Hội chứng xoang hang: sụp mi, nhãn cầu đứng yên, đồng tử giãn, mất cảm giác mạc, tê bì trên vùng thuộc nhánh dây V, lồi mắt thẳng trục, không đẩy thụt nhãn cầu vào được, nghe ở vùng mắt và thái dương có tiếng thổi; Hội chứng cuống não: hội chứng Weber liệt dây thần kinh III cùng bên, liệt nửa người đối diện, hội chứng Benedick liệt dây thần kinh III cùng bên, run chân tay bên đối diện; Hội chứng Claude Bernard - Horner: sụp mi, co đồng tử, nhãn cầu thụt.
Sụp mi do cơ: nhược cơ hay gặp ở bệnh nhân nữ, trẻ tuổi, lúc đầu sụp mi một bên là dấu hiệu phát hiện bệnh. Tăng lên khi mệt mỏi, buổi chiều sụp nhiều hơn buổi sáng; rối loạn vận nhãn (song thị); Sụp mi hai bên với mức độ khác nhau nhưng thường nặng, liệt vận nhãn không toàn bộ, sụp mi hai bên, hở mi do tổn thương cơ vòng.
Sụp mi do cân: gặp ở người cao tuổi, chức năng cơ gần như bình thường, khi nhìn xuống mi sụp, nếp gấp da mi cao hơn bình thường, mi mỏng, sụp mi nặng hoặc nhẹ.
Sụp mi do chấn thương: chấn thương đụng dập hoặc đâm xuyên vào cân cơ cũng có thể gây sụp mi vĩnh viễn. Phẫu thuật hốc mắt và phẫu thuật thần kinh cũng có thể gây sụp mi.
Sụp mi do tác nhân cơ giới: u, sa da mi; bệnh lý sẹo như xơ hóa cơ, mắt hột, bỏng.
Các dấu hiệu chứng tỏ sụp mi nặng: lông mi hướng xuống dưới; mất nếp gấp mi trên; co rút cơ trán biểu thị bằng rướn lông mày; ngửa cổ ra sau; giảm thị lực; thử nghiệm lật mi, nếu mi trên luôn ở tư thế đã bị lật chứng tỏ cơ nâng mi yếu hay không còn hoạt động.
        Bệnh sụp mi mắt cần phân biệt với các trường hợp giả sụp mi là tình trạng mi mắt trông có vẻ thấp hơn bình thường, do các nguyên nhân: lõm mắt hoặc lồi mắt bên đối diện; thừa da mi trên quá mức; nhãn cầu nhỏ; không có nhãn cầu, teo nhãn cầu; Lác lên hoặc xuống đối bên; co rút mi trên ở một mắt có thể làm cho mắt bên kia có vẻ sụp; khuôn mặt không cân đối...
Các phương pháp điều trị sụp mi Về tuổi điều trị: nên phẫu thuật khi trẻ 4 - 5 tuổi, lúc này trẻ đã có thể hợp tác để khám. Tuy nhiên, đối với các trường hợp sụp mi nặng, gây giảm thị lực do nhược thị hoặc lệch đầu thì cần phải mổ sớm hơn, có thể từ lúc 1 tuổi.
Sụp mi chủ yếu được điều trị bằng phẫu thuật. Tùy tình trạng để lựa chọn phương pháp thích hợp căn cứ vào mức độ chức năng của cơ nâng mi. Tuy có rất nhiều phương pháp phẫu thuật để điều trị sụp mi nhưng có thể xếp thành ba nhóm chính:
Phương pháp cắt một phần da mi phía trước: phương pháp này được thực hiện đầu tiên bởi những phẫu thuật viên người Ả rập, sau đó được Scarpa (1801) và các tác giả khác cải tiến và hoàn thiện, nhưng ngày nay ít được sử dụng.
Phương pháp cắt ngắn cơ nâng mi trên: được chỉ định khi mà sức cơ nâng mi trên còn ở mức trung bình hoặc tốt. Có thể thực hiện bằng đường từ phía sau qua kết mạc hoặc đường từ phía trước qua da.
Phương pháp dùng sự hỗ trợ của các cơ lân cận: phương pháp này được chỉ định khi mà sức cơ nâng mi trên yếu hoặc không còn. Sử dụng cơ thẳng trên để thay thế hoạt động của cơ nâng mi và áp dụng khi chức năng cơ thẳng trên còn tốt.
Treo mi trên vào cơ trán là phương pháp đơn giản, tương đối thông dụng. Trong phẫu thuật này, người ta dùng các chất liệu sinh học như cân đùi, vạt cơ trán... hoặc chất liệu tổng hợp như chỉ nilon, silicon... treo mi với cơ trán. Mi mắt sẽ mở ra khi bệnh nhân dùng cơ trán để kéo lông mày lên.
BS. Bùi Hữu Thịnh
 
 

Phụ nữ thành thị bị loãng xương nhiều hơn phụ nữ nông thôn

Loãng xương (LX) là một bệnh lão hóa của hệ thống xương của cơ thể, đặc biệt ở người cao tuổi và phụ nữ sau mãn kinh. Do vậy bất kỳ phụ nữ nào khi bước vào tuổi 55-60 cũng có thể bị LX. Tuy nhiên ở một số phụ nữ, quá trình lão hóa xương xuất hiện sớm hơn, thậm chí cả ở những người phụ nữ trẻ tuổi. LX có ý nghĩa lâm sàng quan trọng vì gãy xương do LX để lại những hậu quả nghiêm trọng đến thể chất, tinh thần cũng như chất lượng cuộc sống của người bệnh.
 Loãng xương ảnh hưởng xấu đến chất lượng sống.
Các nguyên nhân gây LX ở phụ nữ thành thị Chính sự thay đổi môi trường sống là một yếu tố nguy cơ gây LX. Hiện nay cùng với việc gia tăng tốc độ đô thị hóa đến chóng mặt, thì tỷ lệ LX ngày càng cao ở các đô thị. Phụ nữ ở thành thị có nguy cơ LX cao hơn ở nông thôn. Tuổi thọ đang cao lên cũng làm tăng gãy xương do LX ở châu Á. Các yếu tố sinh hoạt, ăn uống, vận động của từng cá nhân cũng làm gia tăng nguy cơ LX cho phụ nữ sống ở các đô thị. Phụ nữ bận rộn thường có chế độ ăn uống thất thường, do vậy lượng canxi đưa vào thấp mới chỉ 400mg trong khi đó cơ thể cần 800-1.000mg canxi hằng ngày. Cần chú ý rằng một số phụ nữ trẻ có chứng chán ăn do thần kinh, do áp dụng một số biện pháp nhịn ăn để giữ eo. Do vậy thường xảy ra sự thiếu hụt canxi cũng như cả các chất đạm cần thiết cho xây dựng khung xương của cơ thể. Phơi nắng là một yếu tố vô cùng quan trọng để cơ thể có thể tự sản xuất ra vitanin D, cần thiết cho hấp thu canxi vào xương. Cần chú ý rằng lạm dụng việc sử dụng kem chống nắng cũng làm giảm hấp thu vitamin D từ đó lượng vitamin D cần thiết là 400-1.000UI. Ở miền Bắc Ấn Độ có tới hơn 40% dân chúng bị thiếu hụt vitamin D. Lối sống tĩnh tại như ngồi lâu trong văn phòng, ít đi lại cũng gây LX. Cần chú ý rằng tập thể lực quá mức dẫn đến vô kinh. Tình trạng mất kinh xảy ra cả ở các nữ vận động viên điền kinh. Chế độ làm việc căng thẳng bận rộn, nhiều stress gây đau dạ dày, khiến cơ thể kém hấp thu các chất, kể cả canxi và vitamin D rất cần cho khung xương của cơ thể. Stress cũng gây rối loạn kinh nguyệt, mãn kinh sớm, là yếu tố nguy cơ cao gây LX. Hiện nay phụ nữ có xu hướng gia tăng hút thuốc lá và uống rượu, đặc biệt ở các vùng núi và uống cà phê ở thành phố. Chính các thói quen xấu này cũng làm gia tăng nguy cơ LX. Hút thuốc lá một bao mỗi ngày trong suốt giai đoạn trưởng thành có thể làm mất từ 5-10% khối lượng xương của cơ thể.
Phòng ngừa loãng xương như thế nào?
Chế độ ăn cần đa dạng, bảo đảm đầy đủ đạm và khoáng chất đặc biệt là canxi. Sữa và các sản phẩm chế tiến từ sữa (bơ, phomat, yaourt...), trứng là nguồn cung cấp canxi quan trọng. Các thực phẩm như tôm, tép, cua, cá, vừng, rau ngót, rau thơm, rau muống, rau dền, rau bí, măng khô, đậu nành, tào phớ, xúp lơ... đều giàu canxi. Tốt nhất là ăn cá kho nhừ cả xương. Ngoài ra cần bổ sung vitamin D, có trong sữa, trứng, nấm tươi, cá hồi, trai, sò... để cơ thể hấp thu được canxi. Nên ăn nhiều rau, trái cây và thức ăn chứa nhiều estrogen tự nhiên như giá đỗ, đậu nành, bắp cải, tỏi, yến mạch, lạc... vì chúng làm tăng khoáng chất trong xương. Uống trà thường xuyên giúp làm giảm nguy cơ LX do trong trà có nhiều hợp chất tạo xương. Cần có chế độ tập luyện thường xuyên  phù hợp với sức khỏe và từng lứa tuổi. Cần tập thể dục đều đặn 30 phút mỗi ngày, đi bộ nhanh, chạy chậm, tập thể dục thẩm mỹ. Ngoài ra cần tăng thời gian hoạt động ngoài trời hoặc tắm nắng để tăng tổng hợp vitamin D trong cơ thể. Để duy trì mật độ xương hợp lý cần tránh các thói quen xấu như uống rượu, cà phê, hút thuốc lá.          
PGS.TS.BS. Nguyễn Vĩnh Ngọc
(Khoa khớp - BV Bạch Mai)
 
 

Viêm amidal và cách xử lý

Viêm amidal có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, lây lan từ người này sang người khác bởi những phần tử trong không khí hoặc những cái bắt tay, ôm hôn... Đặc điểm của bệnh này là đau ở trong họng và khó nuốt. Viêm amidal thông thường có thể tự khỏi mà không cần điều trị và thường thì không có biến chứng. Tuy nhiên, không ít trường hợp, viêm amidal gây biến chứng và khó chịu cho người bệnh nếu không điều trị hoặc điều trị không đúng.
 Hạch sưng to khi amidal bị viêm.
Amidal bị viêm như thế nào? Rất nhiều loại vi khuẩn, virut khác nhau tiểm ẩn có thể gây ra viêm amidal, ví dụ như Epstein - Barr virus là một nguyên nhân thường gặp. Nó thường gặp ở người trẻ tuổi, đặc biệt trong những trường hợp như ở lớp học, giảng đường đại học, virut dễ dàng lây từ người này sang người khác do sự tập trung đông người. Trong số các loại vi khuẩn hay gây ra viêm họng thì hay gặp nhất là liên cầu nhóm A, người ta thường gọi là viêm họng liên cầu. Trong giai đoạn ủ bệnh, giai đoạn từ khi nhiễm khuẩn đến khi bệnh toàn phát (thường từ 2 - 4 ngày, có thể ít hơn).
Các triệu chứng của viêm amidal là gì?
- Đau trong họng (có khi rất đau, có thể kéo dài hơn 48 giờ) và có thể kết hợp với khó nuốt. Đau có thể lan lên tai; họng đỏ, amidal sưng và có thể được phủ bởi những chấm trắng; có thể sốt cao; có thể sưng hạch dưới hàm và hạch cổ, đau đầu; có thể mất tiếng hoặc thay đổi giọng nói.
- Nếu đau họng là do nhiễm virut thì triệu chứng thường nhẹ và liên quan đến cảm cúm thông thường.
- Nếu viêm họng do virus Coxsackie thì có những mụn phỏng mọc ở amidal và vùng vòm khẩu cái. Những mụn phỏng này sẽ vỡ trong vài ngày thành những vết loét, những vết loét này sẽ rất đau.
- Nếu viêm họng do nguyên nhân nhiễm liên cầu, amidal thường sưng và bị bao phủ bởi những chấm trắng và họng đau. Bệnh nhân có sốt cao, hơi thở hôi và cảm thấy người rất mệt.
Những bệnh cảnh khác nhau này nhiều khi rất thay đổi và chúng ta cũng không thể nhìn vào họng ai đó mà nói rằng: đây là viêm do virut (điều trị bằng kháng sinh sẽ không hiệu quả) hoặc do vi khuẩn (có thể điều trị được bằng kháng sinh).
Lời khuyên tốt
- Nếu có dấu hiệu của viêm họng kéo dài quá vài ngày hoặc đau rất nặng gây khó nuốt, sốt cao và nôn, nên đi khám bác sĩ.
- Uống nước ấm, ăn thức ăn lỏng, dùng các loại thuốc súc miệng (như nước muối pha loãng, dung dịch súc miệng sát khuẩn có bán sẵn).
- Đau họng nhiều có thể làm cho bệnh nhân không muốn nuốt, đây là lý do thường gặp làm cho bệnh nhân bị mất nước do sốt và do thở bằng miệng. Bù nước và điện giải sẽ làm cho bệnh nhân dễ chịu hơn. Điều quan trọng là người bệnh cần được nghỉ ngơi đầy đủ và phải giữ ấm cơ thể.
Chẩn đoán xác định viêm amidal
Bác sĩ thường chẩn đoán dựa trên các triệu chứng và các dấu hiệu của bệnh, đôi khi phải cấy dịch tiết cổ họng và thử máu để xác định nguyên nhân.
Biến chứng của amidal là gì?
Thường là viêm họng cũng như viêm amidal thì không gây biến chứng gì, chỉ gây biến chứng khi kéo dài quá 1 tuần. Dưới đây là những biến chứng: Viêm nhiễm thứ phát như: viêm tai giữa, viêm xoang. Nếu viêm họng do liên cầu thì có thể gây sốt phát ban (bệnh ban đỏ). Một biến chứng hiếm gặp là áp-xe họng, thường xảy ra ở một bên. Nếu lớn cần phải chích rạch tháo áp-xe. Trong một số hiếm trường hợp có thể gặp biến chứng như: thấp khớp, viêm thận (hiện nay hiếm gặp hơn so với nhiều thập niên trước đây).
Điều trị như thế nào?
Trong hầu hết trường hợp, viêm nhiễm thường gây ra do virut chỉ cần điều trị triệu chứng bằng paracetamol (ví dụ: calpol, panadol) để hạ sốt.
Trong một số ít bệnh nhân viêm amidal gây ra do vi khuẩn thì điều trị bằng penicillin hoặc erythromycin (nếu bệnh nhân bị dị ứng penicillin). Trường hợp dùng kháng sinh trong 2 - 3 ngày đã hết sốt thì người bệnh vẫn cần phải tiếp tục uống thuốc cho đủ phác đồ điều trị, tránh tình trạng bị kháng thuốc cho những lần viêm nhiễm tiếp theo.
Phẫu thuật cắt amidal có thể cần thiết cho những bệnh nhân viêm đi viêm lại nhiều lần hoặc những bệnh nhân viêm amidal nặng không đáp ứng với phác đồ điều trị hoặc ảnh hưởng nhiều đến quá trình học tập và công tác. Nhưng ngày nay, trên thế giới, người ta cắt amidal ít hơn nhiều so với trước đây.
ThS.BSCKII. Phạm Thắng
 
 

Cách ngăn chặn phát triển thành bệnh đái tháo đường týp 2

Ở người lớn được chẩn đoán tiền đái tháo đường (ĐTĐ), việc thay đổi hành vi lối sống có thể phòng tránh và làm chậm quá trình bệnh tiến triển lên thành ĐTĐ type 2. Kết quả từ Chương trình Phòng chống bệnh ĐTĐ của Cơ quan về dịch vụ sức khỏe và con người Hoa Kỳ (HHS) tiến hành trên 3.000 người cho thấy giảm từ 5 - 7% kg cân nặng có thể làm giảm 58% nguy cơ bệnh tiến triển lên ĐTĐ type 2. Có thể giảm cân bằng cách ăn kiêng (giảm chất béo và lượng calo ăn vào) cũng như tập thể dục với mức độ vừa phải tối thiểu 150 phút một tuần (hầu hết những người tham gia nghiên cứu chọn đi bộ). Uống thuốc điều trị ĐTĐ gốc metformin cũng có thể làm chậm quá trình tiến triển của bệnh lên ĐTĐ type 2 ở một số người tham gia nghiên cứu. Các thuốc điều trị ĐTĐ khác không được khuyến cáo sử dụng trong giai đoạn tiền ĐTĐ.
Hướng dẫn mới của AACE về quản lý tiền ĐTĐ
Tuyến tụy giúp cân bằng mức độ đường của cơ thể.
Theo một tuyên bố đồng thuận do Hội Nội tiết lâm sàng Mỹ (AACE) đưa ra ngày 23/7, quản lý tiền ĐTĐ bao gồm cả thay đổi hành vi lối sống và đặt mục tiêu điều trị huyết áp và mỡ máu như đối với người bệnh ĐTĐ. Tài liệu về Hướng dẫn thực hành nội tiết dự kiến sẽ được xuất bản vào cuối năm nay.
"Chúng ta, với tư cách là những cá nhân và với tư cách là một xã hội, cần tác động đến các nhân tố ảnh hưởng gây nên béo phì, bệnh ĐTĐ và tiền ĐTĐ", Yehuda Handlesman MD, FACP, FACE, quan chức của AACE và là Giám đốc y khoa của Học viện Nghiên cứu chuyển hóa của Mỹ đã phát biểu trong một tuyên bố mới đây. "Chúng tôi hiểu những khó khăn khi thực hiện các giải pháp đề ra nhưng với tư cách một hội nội tiết, chúng tôi cam kết hỗ trợ cộng đồng và quốc gia bằng mọi nỗ lực có thể làm được".
Hướng dẫn mới này là phác đồ điều trị tiền ĐTĐ toàn diện đầu tiên do hội đồng các chuyên gia về ĐTĐ và rối loạn chuyển hóa đưa ra. Tuyên bố đồng thuận cũng đưa ra các hướng dẫn cụ thể về thay đổi hành vi lối sống cũng như là can thiệp bằng thuốc uống vào thời điểm thích hợp.
Vì tiền ĐTĐ làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và tiến triển thành ĐTĐ type 2, những hướng dẫn này cũng giúp phát hiện và điều trị bệnh ĐTĐ type 2 sớm hơn và hiệu quả hơn.
Vì hiện nay chưa có phác đồ điều trị bằng thuốc nào được Cơ quan Quản lý thuốc và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) duyệt, dùng cho người mắc tiền ĐTĐ để ngăn ngừa bệnh tiến triển lên thành ĐTĐ type 2, hội đồng các chuyên gia đưa ra hướng dẫn điều trị tiền ĐTĐ bằng 2 hướng.
Mục tiêu đầu tiên là thay đổi hành vi một cách tích cực để ngăn ngừa bệnh tiến triển lên thành ĐTĐ type 2, theo hướng dẫn của Chương trình Phòng chống bệnh ĐTĐ của Chính phủ Mỹ.
"Mặc dù thay đổi hành vi lối sống rõ ràng có thể ngăn ngừa bệnh tiến triển lên thành ĐTĐ nhưng đôi khi chưa đủ", Alan J. Garber, MD, PhD, FACE, Giáo sư y khoa, Trường cao đẳng Y khoa Baylor, Houston, Texas và là chủ tọa Hội nghị về đồng thuận phát biểu. "Đối với những nhóm có yếu tố nguy cơ cao, điều trị bằng thuốc có thể là cần thiết".
Mục tiêu thứ hai là ngăn ngừa biến chứng tim mạch bằng cách điều trị bằng thuốc đối với những người mắc tiền ĐTĐ mà thay đổi lối sống không hiệu quả. Ngoài thuốc hạ đường huyết, có thể phải điều trị cả thuốc hạ huyết áp, hạ mỡ máu vào thời điểm thích hợp. Những người có yếu tố nguy cơ cao với mức đường huyết chạm ngưỡng của người bệnh ĐTĐ, huyết áp cao hoặc mỡ máu cao cần theo dõi các yếu tố nguy cơ chặt chẽ hơn.
"Ở những người có yếu tố nguy cơ cao, điều trị bằng thuốc có thể phù hợp nếu việc thay đổi lối sống không hiệu quả. Dù vậy, tất cả những người có nguy cơ cao mắc ĐTĐ nên ý thức được mức độ của các yếu tố nguy cơ và luôn sẵn sàng hành động”.
Những câu hỏi cụ thể và những nhận xét xác đáng được đề cập đến trong tuyên bố đồng thuận:
Sự khác nhau giữa đường huyết bình thường, tiền ĐTĐ và ĐTĐ; dựa trên những tiêu chí nào để chẩn đoán mỗi loại?
Đường huyết được coi là bình thường khi đường huyết đói dưới 100mg/dL (5,6mmol/L) và đường huyết sau ăn 2giờ dưới 140 mg/dL (7,8mmol/L). Được chẩn đoán ĐTĐ khi đường huyết đói lớn hơn hoặc bằng 126mg/dL (7mmol/L) và đường huyết sau ăn 2giờ lớn hơn hoặc bằng 200mg/dL (11,1mmol/L); khoảng cách giữa ĐTĐ và không ĐTĐ chưa được định nghĩa rõ ràng. Ở một số người có mức đường huyết chấp chới ngưỡng (đường huyết đói trong khoảng từ 100 - 125mg/dL; đường huyết sau ăn 2giờ từ 140- 199mg/dL) cảnh báo nguy cơ có thể mắc bệnh ĐTĐ type 2, bệnh tim mạch và các biến chứng mạch máu nhỏ.
Nếu không điều trị tiền ĐTĐ, những rủi ro lâm sàng mà người bệnh có thể mắc phải là gì?
Trong nghiên cứu DECODE, nguy cơ tử vong do tất cả các nguyên nhân tăng đáng kể nếu đường huyết 2giờ sau ăn tăng từ 95 lên 200mg/dL. Trong Chương trình phòng chống bệnh ĐTĐ, khoảng 8% bệnh nhân rối loạn dung nạp đường huyết bị biến chứng võng mạc và 13% trong số họ sẽ bị mắc ĐTĐ. Nghiên cứu STOP NIDDM cho thấy nhóm chứng (placebo) với huyết áp cao (trên 140/90mmHg) và tiền sử rối loạn dung nạp glucose 3 năm làm tăng nguy cơ bị các biến cố về tim mạch khoảng 5% trong vòng 4 năm. Nghiên cứu Honolulu về tim mạch (Honolulu Heart Study) cho thấy tăng đường huyết sau ăn thường đi kèm với tăng các ca đột tử trong 23 năm nghiên cứu.
Dự án quốc gia Phòng chống bệnh đái tháo đường - BV Nội tiết TW
 
 

Người tăng huyết áp có cần kiêng ăn trứng?

 Món ăn từ trứng là thực phẩm bổ dưỡng cho sức khỏe.
Rất nhiều người nghĩ rằng người bị tăng huyết áp thì cần kiêng ăn trứng, thực tế không phải như vậy. Những kết quả nghiên cứu của Hội Y khoa Mỹ đã cho thấy nếu người bình thường ăn 1-2 quả trứng mỗi ngày sẽ không nguy hại gì cho sức khỏe. Theo Tiến sĩ Meis Stempfe thuộc Trường đại học Harvard của Mỹ đã kết luận rằng: "Trứng chính là một quà tặng của tự nhiên dành cho con  người". Chúng ta hãy tìm hiểu về thành phần của trứng để yên tâm hơn khi sử dụng nó làm thực phẩm.
Trứng là loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng đặc biệt cao. Trong trứng có đủ chất đạm, chất béo, vitamin, chất khoáng, các men và hormon. Tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong trứng tương quan với nhau rất thích hợp, cân đối.
Chất đạm của trứng là nguồn rất tốt các axit amin cần thiết có nhiều vai trò quan trọng trong cơ thể, đặc biệt cần thiết cho sự phát triển cả về cân nặng và chiều cao của trẻ. Trứng có nguồn chất béo rất quý đó là lecithin. Lecithin thường có rất ít ở các thực phẩm khác, nó tham gia vào thành phần các tế bào và dịch thể của tổ chức đặc biệt là tổ chức não. Nhiều nghiên cứu cho thấy lecithin có tác dụng điều hòa lượng choletsterol, ngăn ngừa tích lũy cholesterol, thúc đẩy quá trình phân tách và bài xuất nó ra khỏi cơ thể. Trứng cũng chứa lượng cholesterol đáng kể (600mg cholesterol/100g trứng gà), nhưng trứng cũng có tương quan thuận lợi giữa lecithin và cholesterol do vậy lecithin sẽ phát huy vai trò điều hòa cholesterol ngăn ngừa quá trình xơ vữa động mạch và đào thải cholesterol ra khỏi cơ thể. Trứng cũng là nguồn cholin quý mà ít thực phẩm nào sánh bằng, chất cholin sẽ được gan chuyển thành axetylcholin là chất dẫn truyền thần kinh giúp làm tăng trí nhớ. Nếu ăn nhiều trứng sẽ làm tăng cholesterol máu nhưng mức tăng thực ra là rất nhỏ mà chính chất béo bão hòa được tìm thấy nhiều ở thịt, mỡ và phủ tạng động vật... mới làm cho cholesterol tăng lên nhiều. Trứng cũng là nguồn vitamin và chất khoáng rất tốt, các chất khoáng như sắt, kẽm, đồng, mangan, iốt... tập trung hầu hết trong lòng đỏ. Lòng đỏ có cả các vitamin tan trong nước (B1,B6) và vitamin tan trong dầu (vitamin A,  D,  K). Trong lòng trắng chỉ có 1 ít vitamin tan trong nước (B2,B6). Cả trong lòng đỏ và lòng trắng có chất biotin. Biotin là vitamin B8  - là vitamin tham gia vào chu trình sản xuất ra năng lượng để đáp ứng nhu cầu của cơ thể. Trong lòng trắng trứng tươi chất biotin kết hợp với 1 protein là avidin làm mất hoạt tính của biotin, tạo phức hợp biotin-avidin rất bền vững và không chịu tác dụng của men tiêu hóa. Khi nấu chín avidin sẽ được giải phóng khỏi phức hợp biotin-avidin. Khi ăn trứng sống có biểu hiện ngộ độc chính là tình trạng thiếu biotin với các dấu hiệu: chán ăn, nôn mửa, viêm lưỡi, viêm kết mạc, viêm móng và quanh móng...
Lòng đỏ và lòng trắng trứng có độ đồng hóa khác nhau. Lòng đỏ do độ nhũ tương và phân tán đều các thành phần dinh dưỡng nên ăn sống hoặc chín đều rất dễ đồng hóa, hấp thu. Các phương pháp nấu nướng thông thường (trừ quá kỹ) không làm giảm giá trị dinh dưỡng của nó.
Lòng trắng trứng khó tiêu và đồng hóa kém là do trong lòng trắng còn có men antitrypsin, ức chế các men tiêu hóa của tụy và ruột, khi đun nóng 80oC men này sẽ bị phá hủy. Do vậy cần nấu chín kỹ phần lòng trắng mới được ăn. Trứng là thức ăn quen thuộc và giàu dinh dưỡng, các chất dinh dưỡng lại ở tỷ lệ cân đối, do vậy trứng có thể sử dụng cho cả trẻ em và người lớn. Với trẻ nhỏ từ 5-6 tháng, 1 tuần chỉ nên ăn 3 lần, mỗi lần 1/2 lòng đỏ trứng gà dưới dạng nấu bột hay nấu cháo. Với trẻ trên 7 tháng mỗi ngày có thể ăn 1 quả trứng gà hoặc trứng vịt hoặc 4 quả trứng chim cút. Với người lớn 1 tuần có thể ăn 3-4 lần trứng. Với người bị tăng huyết áp hoặc cholesterol cao trong máu vẫn có thể ăn trứng vì qua những kết quả nghiên cứu của các chuyên gia dinh dưỡng Mỹ đã khẳng định, ăn trứng không làm tăng huyết áp và cholesterol máu mà trứng có chứa nhiều chất dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe con người. Tuy nhiên với những người có huyết áp cao và mỡ cao trong máu chỉ nên ăn 2-3 lần trứng trong 1 tuần. 
TS. Thanh Châu